Tăng cường an toàn hồ đập trong bối cảnh mưa lũ cực đoan

Thứ ba, 25/11/2025, 21:52 (GMT+7)
logo Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng, thiên tai xuất hiện với tần suất dày hơn, cường độ mạnh hơn và khó dự báo hơn, vấn đề bảo đảm an toàn hồ đập đã trở thành yêu cầu cấp bách, gắn trực tiếp với an ninh nguồn nước, an toàn dân cư vùng hạ du và sự phát triển bền vững của kinh tế - xã hội.

Những năm gần đây, đặc biệt từ 2024 – 2025, hiện tượng mưa đặc biệt lớn, lũ vượt tần suất thiết kế, bão tăng cấp nhanh trong thời gian ngắn đã đặt hệ thống hồ đập của Việt Nam trước áp lực chưa từng có. Theo thống kê, hiện cả nước có hơn 7.300 đập và hồ chứa thủy lợi, trong đó có 592 đập dâng và hơn 6.723 hồ chứa các loại, với tổng dung tích trữ khoảng 15 tỷ m³, đảm bảo tưới tiêu cho gần 1,1 triệu ha đất sản xuất nông nghiệp và cung cấp khoảng 1,5 tỷ m³ nước cho sinh hoạt, công nghiệp và các lĩnh vực khác. Đây là hệ thống hạ tầng thiết yếu, đóng vai trò chiến lược đối với an ninh nguồn nước và ổn định phát triển vùng.

Mưa lũ cực đoan, thách thức đối với an toàn hồ đập

Tuy nhiên, đi cùng với sự đóng góp đó là những thách thức lớn về an toàn, đặc biệt khi phần lớn hồ chứa vừa và nhỏ đã được xây dựng từ nhiều thập kỷ trước, thiếu hồ sơ thiết kế, chưa được kiểm định an toàn đầy đủ, và còn hạn chế trong công tác vận hành, quan trắc, cảnh báo, cập nhật dữ liệu thực tế. Số liệu thống kê cho thấy, tỷ lệ thực hiện các yêu cầu pháp lý về an toàn còn thấp: mới chỉ có 30% hồ có phương án ứng phó khẩn cấp, 51% có phương án bảo vệ, 9% được kiểm định an toàn, 31% có quy trình vận hành đầy đủ, 19% được lắp thiết bị quan trắc khí tượng thủy văn chuyên dùng và chỉ 11% cắm mốc phạm vi bảo vệ. Điều này khiến nhiều hồ chứa không đáp ứng được yêu cầu quản lý trong bối cảnh thiên tai cực đoan.

Những năm gần đây, chúng ta chứng kiến sự thay đổi rõ rệt và khó lường của thời tiết. Các đợt mưa lũ lớn liên tiếp từ tháng 6 - 11/2025 tại Thành phố Huế, Đà Nẵng, Nghệ An và khu vực miền Trung – Tây Nguyên đã phá vỡ nhiều kỷ lục khí tượng. Tại đỉnh Bạch Mã (Thành phố Huế), lượng mưa một ngày đạt tới 1.739,6 mm, mức chưa từng ghi nhận. Nhiều lưu vực hồ thủy điện và hồ thủy lợi ghi nhận lưu lượng đỉnh lớn hơn cả lũ kiểm tra. Tại lưu vực sông Cả, có thời điểm lưu lượng lũ về hồ đạt 12.800m³/s, vượt xa giá trị thiết kế.

Đặc biệt, siêu bão Yagi vào tháng 9/2024 tăng 8 cấp chỉ trong 24 giờ, duy trì cấp gió cực mạnh và gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản. Sự gia tăng của các hiện tượng khí hậu bất định như vậy khiến công tác vận hành hồ chứa trở nên phức tạp, đòi hỏi khả năng dự báo nhanh, mô phỏng chính xác và điều tiết phải linh hoạt hơn trước.

gen-h-ong-phong_1764041152.webp
Ông Nguyễn Tùng Phong, Cục trưởng Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi cho rằng, chúng ta phải chuyển từ mô hình quản lý hồ đập truyền thống sang  quản lý thông minh dựa trên nền tảng số, dữ liệu lớn và công nghệ tiên tiến

Ông Nguyễn Tùng Phong, Cục trưởng Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi cho rằng, việc quản lý, vận hành an toàn đập, hồ chứa trên cả nước hiện đang gặp nhiều thách thức và đứng trước yêu cầu hoàn toàn mới. Nếu như trước đây việc vận hành hồ chứa tập trung chủ yếu vào an toàn công trình và cấp nước, thì nay yêu cầu đã thay đổi căn bản đó là: phải đảm bảo cùng lúc ba mục tiêu – an toàn đập, cắt giảm đỉnh lũ cho hạ du và tối ưu tích nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Đô thị hóa nhanh làm thu hẹp không gian thoát lũ, hệ thống tiêu thoát bị quá tải, xây dựng hạ tầng không đồng bộ làm gia tăng nguy cơ ngập úng.

Trong khi đó, việc phối hợp vận hành liên hồ còn nhiều bất cập. Hiện chưa có cơ chế điều phối thống nhất cho các hồ nằm trên cùng lưu vực và do nhiều chủ quản lý khác nhau, đặc biệt giữa hồ thủy lợi và thủy điện. Việc chia sẻ dữ liệu vận hành còn hạn chế, chưa tích hợp theo thời gian thực, dẫn tới thiếu căn cứ ra quyết định trong tình huống khẩn cấp...

Theo ông Phong, để vận hành hiệu quả hồ đập trong điều kiện mưa lũ bất thường, dữ liệu phải đầy đủ, chính xác, liên tục. Tuy nhiên, thực tế cho thấy hệ thống dữ liệu hiện nay còn phân tán, thiếu kết nối, không đồng bộ và chưa đáp ứng tiêu chuẩn phục vụ dự báo, cảnh báo và mô phỏng lũ. Hiện nay, mới chỉ có khoảng 100 hồ lớn lắp đặt các trạm quan trắc tự động. Nhiều thiết bị chưa được bảo trì, data lỗi hoặc không chuẩn hóa. Cơ sở dữ liệu ở địa phương chủ yếu lưu bằng Word, Excel, PDF. Chưa có chuẩn lập trình ứng dụng (API), chuẩn dữ liệu thống nhất toàn quốc. Hệ thống cảnh báo hạ du còn thủ công tại nhiều nơi. Thiếu dữ liệu dẫn đến thiếu cơ sở để cập nhật quy trình vận hành, đánh giá an toàn công trình, mô phỏng ngập lụt, dự báo rủi ro và ra quyết định sớm…

Chuyển từ quản lý truyền thống sang quản lý thông minh

Để ứng phó với bối cảnh mới, ngành thủy lợi phải thực hiện chuyển đổi số toàn diện với 5 định hướng trọng tâm, đó là: hoàn thiện khung pháp pháp lý và tiêu chuẩn kỹ thuật; các quy định trong Luật Thủy lợi và Nghị định 114/2018/NĐ-CP cần được sửa đổi để làm rõ trách nhiệm Trung ương và địa phương, phù hợp mô hình chính quyền 2 cấp; xây dựng tiêu chuẩn quốc gia về dữ liệu, quan trắc, phần mềm vận hành thời gian thực đồng thời cho phép xã hội hóa dịch vụ khí tượng thủy văn và hỗ trợ ra quyết định. Bên cạnh đó, cần sớm xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất toàn quốc theo nguyên tắc “Đúng – Đủ – Sạch – Sống – Thống nhất – Dùng chung”, đầu tư và hiện đại hóa hệ thống quan trắc, cảnh báo bao gồm quan trắc khí tượng thủy văn, quan trắc an toàn đập, xây dựng hệ thống camera giám sát, cảnh báo tự động đa kênh cho người dân hạ du…

ngan-truoi-1_1764041167.webp
Hồ Ngàn Trươi có nhiệm vụ tích nước và điều tiết lũ cho vùng hạ du với dung tích phòng lũ 157 triệu m3, đặc biệt là vùng rốn lũ khu vực Hương Khê, Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh

Đặc biệt, để vận hành, triển khai thông suốt thì yếu tố con người phải được trú trọng đầu tư, trong đó phải nâng cao năng lực độ ngũ cán bộ làm công tác quan trắc, dự báo, thống kê, sử dụng thành thạo công nghệ số, phân tích dữ liệu, ứng dụng AI, IoT, Big Data trong vận hành. Có thể nói đây là vấn đề then chốt để dự báo mưa, dòng chảy, ngập lụt theo thời gian thực, tính toán kịch bản vận hành tối ưu hồ, đập, đánh giá rủi ro vùng hạ du trước khi xả lũ. Ngoài vấn đề kỹ thuật, chúng ta phải xây dựng hành lang pháp lý thống nhất từ trung ương đến địa phương, phát triển nền tảng dữ liệu kết nối toàn quốc, triển khai nghiên cứu và thí điểm hệ thống hỗ trợ quyết định (DSS) tại các hồ quan trọng đặc biệt. Các địa phương sớm xây dựng cơ sở dữ liệu và kết nối về Bộ, lắp đặt quan trắc, cảnh báo tại các hồ có dân cư sinh sống đông ở vùng hạ du, xây dựng phần mềm quản lý vận hành đảm bảo an toàn, hiệu quả, thông suốt. Ngoài ra, cần xây dựng hệ thống giám sát vận hành tự động, lắp đặt thiết bị thông tin, cảnh báo an toàn cho đập và vùng hạ du, tích hợp đa kênh cảnh báo qua tin nhắn SMS, app mobile, loa truyền thanh và mạng xã hội để đảm bảo thông tin đến người dân kịp thời. An toàn hồ đập không chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật mà còn là nhiệm vụ chính trị, liên quan trực tiếp đến tính mạng người dân, ổn định xã hội và chiến lược phát triển bền vững quốc gia. Trong bối cảnh thiên tai cực đoan gia tăng, yêu cầu đảm bảo an toàn hồ đập càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Để làm được điều này, chúng ta phải chuyển từ mô hình quản lý truyền thống sang mô hình quản lý thông minh dựa trên nền tảng số, dữ liệu lớn và công nghệ tiên tiến. Trong đó trung ương cần đóng vai trò kiến tạo và dẫn dắt, địa phương cần chủ động triển khai, hệ thống khoa học, công nghệ cần tham gia sâu, và toàn xã hội cần nhận thức rõ trách nhiệm chung. Chỉ khi đó, chúng ta mới có thể bảo đảm an toàn công trình, an toàn hạ du, an ninh nguồn nước, giảm thiểu thiệt hại thiên tai và khai thác hiệu quả tài nguyên nước phục vụ phát triển kinh tế – xã hội theo hướng bền vững, hiện đại và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Lê Hải - Liên Huyền