Sáng 4/3, tại Hà Nội, Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường tổ chức Hội nghị tổng kết công tác quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm (ATPT), chế biến và phát triển thị trường năm 2025 và triển khai kế hoạch hành động năm 2026. Thứ trưởng Trần Thanh Nam dự và chủ trì Hội nghị, cùng sự tham dự của lãnh đạo các cục, vụ, viện thuộc Bộ. Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến.
Bám sát thị trường để giữ đà tăng trưởng xuất khẩu
Trình bày tại Hội nghị, ông Lê Thanh Hòa, Phó Cục trưởng Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường cho biết, năm 2025 vừa qua, công tác quản lý chất lượng, ATTP nông lâm thủy sản đã có những chuyển biến tích cực. Cả nước hiện có 322.491 ha cây trồng, 7.960 cơ sở được chứng nhận VietGAP; 3.227 ha diện tích nuôi trồng thủy sản, 681 cơ sở được chứng nhận VietGAP; 1.308 trang trại và hộ chăn nuôi được chứng nhận VietGAHP; 3.626 lượt cấp Giấy chứng nhận vùng, cơ sở An toàn dịch bệnh; 440 cơ sở giết mổ động vật tập trung và 24.858 cơ sở giết mổ động vật nhỏ lẻ. Năm 2025, ngành chức năng đã cấp 9.336 mã số vùng trồng và 1.379 mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu cho khoảng 20 loại trái cây tươi như thanh long, xoài, dừa, nhãn, chuối, dưa hấu, sầu riêng, chôm chôm, chanh…, với tổng diện tích hơn 444 nghìn ha.
Trong lĩnh vực chế biến, bảo quản nông lâm thủy sản, Cục đã tham mưu Bộ triển khai các chiến lược, đề án phát triển chế biến; đồng thời báo cáo Chính phủ rà soát, hoàn thiện chính sách khuyến khích cơ sở sản xuất, chế biến nông lâm thủy sản và phát triển ngành mía đường. Các nhiệm vụ, giải pháp nâng cao năng lực chế biến, bảo quản nông sản và thúc đẩy chế biến sâu được tập trung chỉ đạo thực hiện.
Đến nay, cả nước có gần 8.000 cơ sở chế biến nông lâm thủy sản quy mô công nghiệp gắn với xuất khẩu và gần 22.000 cơ sở chế biến nông sản, thực phẩm quy mô nhỏ phục vụ tiêu thụ nội địa. Tổng công suất chế biến đạt trên 160 triệu tấn nguyên liệu mỗi năm, đóng góp quan trọng vào kim ngạch xuất khẩu nông sản của cả nước.
Năm 2025, các cơ quan chức năng đã kiểm tra 11.911 cơ sở sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp và nông lâm thủy sản; xử phạt 549 cơ sở, chiếm khoảng 4,6% tổng số cơ sở được kiểm tra, với tổng số tiền phạt trên 15 tỷ đồng.
Bên cạnh những kết quả đạt được, một số chỉ tiêu vẫn chưa hoàn thành theo kế hoạch. Tỷ lệ mẫu thực phẩm nông lâm thủy sản được giám sát đạt yêu cầu an toàn thực phẩm đạt 97,8%, thấp hơn mục tiêu đề ra là 99%. Tỷ lệ cơ sở được chứng nhận đủ điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đạt 96%, chưa đạt chỉ tiêu 99%; trong khi tỷ lệ cơ sở ký cam kết tuân thủ quy định đạt 95%, hoàn thành mục tiêu đề ra.
Năm 2026, ngành đặt mục tiêu tiếp tục nâng cao hiệu quả quản lý an toàn thực phẩm, phấn đấu nâng tỷ lệ cơ sở được chứng nhận đủ điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm lên trên 97%; tỷ lệ cơ sở nhỏ lẻ ký cam kết tuân thủ quy định đạt trên 97%; tỷ lệ mẫu giám sát đạt yêu cầu trên 98,5%. Đồng thời, số cơ sở, diện tích hoặc sản lượng áp dụng các quy trình sản xuất tốt như VietGAP, VietGAHP dự kiến tăng tối thiểu 5%.
Theo ông Lê Thanh Hòa, năm 2026 ngành nông nghiệp đặt mục tiêu tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 73 – 75 tỷ USD. Để đạt mục tiêu này, ngành sẽ tiếp tục đẩy mạnh quản lý theo chuỗi, gắn chế biến sâu với xây dựng thương hiệu và phát triển logistics, đồng thời mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng thường xuyên cập nhật, cảnh báo biến động thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp chủ động kế hoạch sản xuất, kinh doanh. Công tác chuyển đổi số được xác định là giải pháp trọng tâm, thông qua xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc và các cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành trong lĩnh vực chất lượng, chế biến và phát triển thị trường, bảo đảm kết nối, liên thông giữa bộ, ngành và địa phương…
Siết chặt quản lý an toàn thực phẩm, tận dụng tối đa phụ phẩm nông nghiệp, mở rộng thị trường xuất khẩu
Tại Hội nghị, ông Tạ Văn Tường, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Hà Nội cho biết, thành phố hiện có gần 15.000 cơ sở sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp và sản phẩm nông lâm thủy sản thuộc diện quản lý, hơn 85.000 cơ sở nhỏ lẻ, gây áp lực lớn cho công tác kiểm soát. Trong năm 2025 vừa qua, thành phố đã lấy gần 1.800 mẫu sản phẩm thực phẩm lưu thông trên thị trường, qua kiểm tra có hơn 94% đạt yêu cầu.
Hiện nay, một trong những lĩnh vực được xác định là “điểm nóng” của thành phố là quản lý giết mổ. Theo thống kê, trên địa bàn thành phố hiện có hơn 700 cơ sở giết mổ, nhưng mới kiểm soát thường xuyên được 86 cơ sở. Đáng chú ý, nhu cầu tiêu thụ thịt đông lạnh, thịt nhập khẩu ngày càng tăng, đặt ra yêu cầu cao hơn về kiểm soát chất lượng và năng lực bảo quản.
Để quản lý tốt công tác ATTP, theo ông Tường, từ năm 2026, thành phố sẽ thay đổi phương thức giám sát theo hướng dựa trên phân tích nguy cơ, điều tra trước khi lấy mẫu, nhằm “đánh trúng” các nhóm sản phẩm, cơ sở có nguy cơ mất an toàn cao. Cụ thể, thay vì lấy mẫu dàn trải, việc giám sát sẽ tập trung vào những điểm nóng để kịp thời phát hiện và xử lý vi phạm. Mục tiêu thành phố đặt ra là rà soát, chấn chỉnh toàn bộ các cơ sở chưa được kiểm soát trong nửa đầu năm, đồng thời thu hút đầu tư xây dựng từ 20 – 26 cơ sở giết mổ tập trung theo quy hoạch, tiến tới dừng hoạt động các cơ sở nhỏ lẻ không bảo đảm điều kiện.
Với vai trò là trung tâm kinh tế, văn hóa của cả nước và quy mô dân số lớn, Hà Nội có nhu cầu tiêu thụ nông sản rất cao. Vì vậy, thành phố đề nghị các địa phương tăng cường phối hợp trong quản lý chất lượng ngay từ khâu sản xuất tại nguồn; đồng thời đẩy mạnh kết nối doanh nghiệp hai chiều nhằm bảo đảm nguồn nguyên liệu ổn định, minh bạch, an toàn cho thị trường Hà Nội cũng như phục vụ xuất khẩu.
Phát biểu tại Hội nghị, PGS, TS. Phạm Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Cơ điện Nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch cho biết, hiện nay tổn thất sau thu hoạch trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn còn cao, cụ thể: Ngành hàng rau quả từ 20 – 30%, thủy sản từ 15 – 25%, lúa gạo từ 13 – 15%...
Nguyên nhân là do đặc thù sản xuất nông nghiệp chủ yếu là quy mô nhỏ lẻ, manh mún. Đầu tư cơ sở hạ tầng cho công nghệ sau thu hoạch chưa đúng mức và đồng bộ, thiếu chuỗi cung ứng lạnh; Tỷ lệ doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ còn thấp; Các kết quả nghiên cứu khó chuyển giao đến các doanh nghiệp nhỏ, HTX; Tỷ lệ chế biến sâu còn thấp, sản phẩm chưa đa dạng, tính cạnh tranh thấp...
Do đó, để nâng cao sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế, cần ưu tiên phát triển công nghệ bảo quản, thúc đẩy chuyển dịch từ chế biến thô sang chế biến tinh, đa dạng hóa sản phẩm theo hướng gia tăng giá trị từ sơ chế đến tinh chế và sản phẩm chức năng. Đồng thời, chú trọng giảm phát thải, bảo vệ môi trường và phát triển chuỗi sản xuất theo hướng bền vững.
Về xu hướng thị trường xuất khẩu, ông Nguyễn Anh Phong, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường cho rằng, động lực mở cửa thị trường tiếp tục được củng cố thông qua việc ký kết các nghị định thư xuất khẩu, đặc biệt là thị trường Trung Quốc. Ngoài ra, việc tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do như RCEP, EVFTA, CPTPP, …đã và đang tạo thêm dư địa tăng trưởng cho nông lâm thủy sản của Việt Nam.
Đáng chú ý, hiện nay chúng ta thấy xu hướng cạnh tranh trên thị trường quốc tế đang chuyển dịch từ mô hình “sản lượng – giá” sang “chuẩn hóa – bền vững”. Vì vậy, doanh nghiệp Việt Nam cần nâng cao tiêu chuẩn chất lượng, minh bạch truy xuất nguồn gốc, đồng thời đáp ứng các yêu cầu ngày càng khắt khe về môi trường và trách nhiệm xã hội, ông Phong cho biết.
Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Thứ trưởng Trần Thanh Nam cho biết, năm 2025, mặc dù tình hình thế giới có nhiều biến động và trong nước triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, xuất khẩu nông lâm thủy sản vẫn đạt trên 70 tỷ USD, đánh dấu bước phát triển vượt bậc của ngành Nông nghiệp và Môi trường. Những tháng đầu năm 2026, hoạt động xuất khẩu tiếp tục ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, cho thấy đà tăng trưởng được duy trì ổn định.
Tuy nhiên, theo Thứ trưởng Trần Thanh Nam, xuất khẩu nông lâm thủy sản năm 2026 vẫn đối mặt nhiều rủi ro từ các rào cản phi thuế quan, biện pháp phòng vệ thương mại cũng như diễn biến địa chính trị phức tạp có thể ảnh hưởng đến vận tải, thanh toán và dòng chảy thương mại toàn cầu. Vì vậy, trong thời gian tới, ngành không chỉ tập trung mở rộng thị trường hay nâng giá trị xuất khẩu mà cần chủ động nhận diện, dự báo và tham mưu giải pháp ứng phó với các rào cản phi truyền thống. Việc nâng cao năng lực dự báo và xây dựng các kịch bản thích ứng với biến động thương mại quốc tế được xác định là yêu cầu cấp thiết.
“Tăng cường siết chặt quản lý an toàn thực phẩm, thực hiện việc hậu kiểm có trọng tâm về quản lý chất lượng và an toàn thực phẩm trong nước cũng như xuất khẩu. Đây không chỉ là trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước mà cần sự phối hợp chặt chẽ của các hiệp hội ngành hàng và cộng đồng doanh nghiệp. Trọng tâm hiện nay không chỉ là tiêu chuẩn, quy chuẩn mà đặc biệt là truy xuất nguồn gốc. Ngành Nông nghiệp và Môi trường sẽ chuyển mạnh từ kiểm tra theo kế hoạch sang kiểm tra đột xuất, tăng cường hậu kiểm và cảnh báo sớm; tập trung giám sát nguy cơ đối với sản phẩm chủ lực và vùng nguyên liệu tập trung, nhất là vùng phục vụ xuất khẩu, trong đó trọng tâm kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất cấm, kháng sinh và vi sinh vật gây hại…” - Thứ trưởng Trần Thanh Nam nhấn mạnh.