Trên cơ sở tổng kết thực tiễn 03 Chương trình Mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 - 2025, Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 được thiết kế theo hướng tích hợp, tăng phân cấp, tập trung nguồn lực và quản lý theo kết quả.
Chương trình Mục tiêu quốc gia (MTQG) xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 được Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư tại Nghị quyết số 257/2025/QH15 ngày 11/12/2025; giai đoạn I, từ năm 2026 đến năm 2030, được Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường phê duyệt tại Quyết định số 417/QĐ-BNNMT ngày 31/1/2026.
Theo Quyết định số 417/QĐ-BNNMT, Chương trình giai đoạn 2026 - 2030 được kết cấu thành 02 hợp phần nhằm bảo đảm quản lý thống nhất, vừa duy trì rõ các chính sách đặc thù và mức độ ưu tiên cho vùng còn nhiều khó khăn.
Cụ thể, hợp phần thứ nhất bao gồm các nội dung chung thực hiện trên phạm vi cả nước, từ hoàn thiện quy hoạch; phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn; phát triển sản xuất, kinh tế nông thôn và tạo sinh kế; nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, văn hóa, an sinh xã hội; đào tạo nguồn nhân lực; cải thiện dịch vụ hành chính công, trợ giúp pháp lý và bình đẳng giới; bảo vệ môi trường, giữ gìn an ninh, trật tự đến truyền thông, kiểm tra, giám sát và xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý. Tập trung ưu tiên hỗ trợ, đầu tư cho các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào DTTS&MN, an toàn khu, biên giới và hải đảo.
Hợp phần thứ hai bao gồm các nội dung đặc thù phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN. Trọng tâm là đầu tư, hoàn thiện hạ tâng thiết yếu; hỗ trợ đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt; phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp gắn với bảo vệ rừng và nâng cao thu nhập; cải thiện điều kiện giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa và bảo tồn bản sắc dân tộc.
Về kết quả khắc phục hạn chế, bất cập của giai đoạn trước và những điểm mới của Chương trình giai đoạn 2026 - 2030, theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trên cơ sở tổng kết 03 Chương trình MTQG giai đoạn 2021 - 2025, Chương trình giai đoạn 2026 - 2030 được thiết kế theo hướng tích hợp, tăng phân cấp, tập trung nguồn lực và quản lý theo kết quả. Các quy định mới đã xử lý cơ bản những hạn chế về giao thoa chính sách, phân tán đầu mỗi, nhiều văn bản hướng dẫn, phân bổ nguồn lực dàn trải và đánh giá còn nặng về đầu vào; đồng thời tạo khuôn khổ để địa phương chủ động tổ chức thực hiện.
Cụ thể, Bộ tiêu chí giai đoạn 2026 - 2030 được tổ chức lại thành 10 nhóm tiêu chí, áp dụng phù hợp với từng nhóm xã và tăng phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cụ thể hóa một số chỉ tiêu theo điều kiện thực tế. Trọng tâm chuyển từ mở rộng các mức "nâng cao", "kiểu mẫu" sang xây dựng xã Nông thôn mới và xã Nông thôn mới hiện đại; chú trọng hơn đến phát triển kinh tế nông thôn, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, chất lượng dịch vụ xã hội, khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, môi trường, cảnh quan và hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở.
Quy định về chuẩn nghèo giai đoạn 2026 - 2030 được điều chỉnh theo hướng phản ánh đầy đủ hơn mức sống tối thiếu và khả năng tiêp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Bộ tiêu chí đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP tiếp tục kế thừa kết quả của giai đoạn trước, đồng thời nâng yêu cầu về chất lượng, giá trị văn hóa, vai trò cộng đồng, năng lực thị trường, thương hiệu và trách nhiệm môi trường. OCOP được xác định là công cụ phát triển kinh tế nông thôn tích hợp đa giá trị, khai thác lợi thế bản địa, mở rộng thị trường và nâng cao giá trị sản phẩm theo hướng xanh, bền vững.
Chương trình được tổ chức thành các hợp phần và nội dung thành phần có phạm vi tương đối rõ; chuyển từ điều hành riêng sang quản lý tổng hợp trong một kế hoạch chung. Bộ Nông nghiệp và Môi trường thực hiện vai trò cơ quan chủ Chương trình, điều phối chung; các bộ, cơ quan trung ương chịu trách nhiệm đối với nội dung được phân công; địa phương tổ chức thực hiện trên cơ sở mục tiêu, phạm vi, đối tượng và tổng mức vốn được giao. Cơ chế này tạo điều kiện giảm đầu mối, tăng phối hợp và xác định rõ hơn trách nhiệm của từng cơ quan.
Bên cạnh đó, giai đoạn 2026-2030 tách rõ việc xác định địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số, địa bàn miền múi và phân định trình độ phát triển; áp dụng thống nhất từ cấp thôn, xã đến tỉnh. Tiêu chí được xác định theo hướng đa chiều, kết hợp tỷ lệ và số lượng người dân tộc thiểu số, điều kiện địa hình, thu nhập, nghèo đa chiều, hạ tầng và khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản; qua đó hạn chế bỏ sót những địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số nhưng chưa đạt tỷ lệ theo quy định. Danh sách địa bàn được sử dụng ổn định trong cả giai đoạn, tạo thuận lợi cho xây dựng kế hoạch và bố trí nguồn lực trung hạn.
Cũng theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ngân sách trung ương được phân bổ theo mức độ khó khăn, ưu tiên xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, an toàn khu, biên giới và hải đảo. Địa phương được chủ động lựa chọn nhiệm vụ, lồng ghép ngân sách trung ương, ngân sách địa phương, tín dụng chính sách và các nguồn vốn hợp pháp khác trong một kế hoạch chung; bảo đảm không trùng lặp đối tượng, nội dung hỗ trợ và nhiệm vụ chi, không huy động quá sức dân.
Tăng cường phân cấp, phân quyền tối đa cho địa phương cụ thể hóa tiêu chí, xây dựng kế hoạch, xác định địa bàn, lựa chọn nhiệm vụ, phân bổ vốn và tổ chức thực hiện. Trung ương tập trung quản lý mục tiêu, ban hành chính sách, hướng dẫn, kiểm tra và giám sát; cấp tỉnh quyết định phương án thực hiện trên địa bàn; cấp xã trực tiếp rà soát nhu cầu, xác định đối tượng và tổ chức thực hiện. Quy trình được rút ngắn, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp và tinh thần "Địa phương quyết - Địa phương làm - Địa phương chịu trách nhiệm". Việc phân cấp đồng thời gắn với nguồn lực, năng lực thực hiện và trách nhiệm của người đứng đầu.
Hiệu quả Chương trình được đánh giá gắn với kết quả đầu ra, mức độ cải thiện thu nhập, chất lượng sống, khả năng tiếp cận dịch vụ thiết yếu và tính bền vững sau đầu tư. Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu và chế độ báo cáo được xây dựng theo hướng thống nhất, tăng kết nối, chia sẻ dữ liệu, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình; gắn tiến độ thực hiện, giải ngân, hiệu quả sử dụng nguồn lực và phòng, chống thất thoát, lãng phí với trách nhiệm của người đứng đầu.
Nhìn chung, các điểm mới của Chương trình giai đoạn 2026 - 2030 đã tạo khuôn khổ phù hợp hơn để khắc phục những hạn chế mang tính hệ thống của giai đoạn trước. Tuy nhiên, kết quả khắc phục trong thực tế còn phụ thuộc vào việc cụ thể hóa đầy đủ các quy định, sự phối hợp của các bộ, cơ quan trung ương, tính chủ động của địa phương, năng lực tổ chức thực hiện ở cấp xã và hiệu quả kiểm tra, giám sát trong suốt quá trình triển khai.
Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, việc tích hợp 03 Chương trình MTQG giai đoạn trước bước đầu tạo được đầu mối chỉ đạo thống nhất, giảm phân tán trong quản lý, hạn chế trùng lặp về địa bàn, đối tượng và nội dung hỗ trợ; đồng thời mở rộng dư địa để địa phương chủ động lồng ghép, sử dụng hiệu quả các nguồn lực.