Tạo sinh kế bền vững nhờ mô hình kinh tế tuần hoàn ở đồng bằng sông Cửu Long

Tạo sinh kế bền vững nhờ mô hình kinh tế tuần hoàn ở đồng bằng sông Cửu Long

Thứ hai, 18/5/2026, 05:34 (GMT+7)
logo Kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp là hướng đi bền vững giúp người dân nông thôn tối ưu hóa tài nguyên, giảm chi phí đầu vào và tạo thêm nguồn thu nhập từ phụ phẩm.

Mới đây tại hội nghị công bố Báo cáo & Khuyến nghị chính sách “Hướng tới nông nghiệp bền vững: Thực hành khung môi trường - xã hội - quản trị (ESG)” được tổ chức tại Hà Nội. PGS, TS. Lê Anh Tuấn - Giảng viên cao cấp Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên (Trường Đại học Cần Thơ) đã có những chia sẻ với phóng viên và các nhà nghiên cứu về một mô hình nông nghiệp tuần hoàn - trao sinh kế giảm nghèo cho người dân đồng bằng sông Cửu Long.

PV: Trong nhiều năm qua, mô hình sử dụng cỏ năn tượng làm vật liệu dùng đan lát sản phẩm mỹ nghệ xuất khẩu đã tạo được hiệu ứng lan tỏa rộng. Ông có thể chia sẻ rõ hơn về quá trình nghiên cứu và triển khai mô hình được diễn ra như thế nào?

PGS, TS. Lê Anh Tuấn: Qua quá trình nghiên cứu ở nhiều vùng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long, chúng tôi nhận thấy về xu thế xâm nhập mặn ở khu vực này ngày càng phức tạp, do yếu tố nước biển dâng và biến đổi khí hậu, sản xuất về nông nghiệp đặc biệt là trồng lúa ngày càng bị ảnh hưởng xấu.

Chúng tôi luôn nghĩ rằng cần có cây gì đó để thay thế cây lúa mà vẫn đảm bảo yếu tố về kinh tế thu nhập cho người nông dân, hơn hết đảm bảo về môi trường, chúng tôi phát hiện ra cỏ năn tượng này.

giac-mo-co-nan-tuong-img_1778769505.png
Cỏ năn tượng tự nhiên trong ruộng tôm ở vùng bán đảo Cà Mau

Ở các vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long thường sẽ tiến hành 2 vụ một năm, mùa mưa trồng lúa, mùa nắng nuôi tôm, trồng lúa ở vùng ngập mặn sau nhiều năm đất trồng lúa bị tích tụ muối, khi đó trồng lúa không hiệu quả nữa. Nuôi tôm vào mùa khô tôm hay bị chết bị bệnh.

Chúng tôi đi đến nhiều vùng và có đánh giá xem vùng nào tôm còn sống được, không bị bệnh, chúng tôi phát hiện vùng nuôi tôm còn sống được là nhờ có cây cỏ năn tượng mọc hoang dã.

Sau quá trình nghiên cứu tôi nhận thấy cỏ năn tượng cho giá trị cao, thậm chí hơn cây lúa, tạo được công ăn việc làm, đặc biệt là nhóm yếu thế.

Đặc biệt là phụ nữ nông thôn, đối tượng là người khuyết tật, người già… giải quyết vấn đề di dân và tạo sinh kế để giảm nghèo bền vững. Bên cạnh đó, việc trồng cỏ năn tượng còn giải quyết vấn đề môi trường, tham gia bảo vệ môi trường đất, nước, giảm phát thải.

PV: Ông có nghĩ khi triển khai mô hình này là định hướng trồng trọt theo tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị).

PGS, TS. Lê Anh Tuấn: Ban đầu khi mới triển khai chúng tôi chưa nghĩ tới làm ESG, nhưng sau này khi kêu gọi sự chung tay của các nhà khoa học, doanh nghiệp, chính quyền, các cấp hội đoàn thể và người nông dân chúng tôi dần định hướng ESG.

Đặc biệt khi doanh nghiệp tham gia mô hình này họ sẽ được các chứng nhận cho sản phẩm, từ đó hướng tới đưa ra thị trường trong nước và quốc tế.

44_1778769533.jpg
PGS, TS. Lê Anh Tuấn - Giảng viên cao cấp Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên (Trường Đại học Cần Thơ) chia sẻ về giá trị cây cỏ năn tượng

Sau quá trình nghiên cứu cỏ năn tượng chúng tôi thấy rằng cây này không cần phân bón, không cần thuốc trừ sâu, không cần chăm sóc vẫn mọc đều, mọc nhanh, khi trời nắng tôm sẽ chui dưới dễ để trú ẩn. Chúng tôi cũng phát hiện những cây này lấy oxi từ trên cao đưa xuống đất và nước cung cấp cho tôm.

PV: Từ cây cỏ năn tượng hoang dại đến tạo việc làm, thu nhập ổn định cho lao động ở nông thôn được diễn ra như thế nào thưa ông?

PGS, TS. Lê Anh Tuấn: Cây năn tượng mọc nhanh, lan ra các diện tích trong đầm, ruộng, chúng tôi nhận thấy giá trị từ cây này khi cắt phơi khô, tạo ra những nguyên liệu để làm giỏ, rổ rá và sản phẩm hàng thủ công mỹ khác.

Hiện nay, nhiều địa phương đã thành lập các tổ hợp tác đan giỏ, cứ 15 - 20 thợ đan/tổ. Nguyên liệu từ cỏ năn tượng đan giỏ gia công tạo ra hàng trăm sản phẩm một tuần ở mỗi tổ. Tùy theo mẫu sản phẩm, giá gia công đan giỏ từ 14.000 - 31.000 đồng/giỏ. Mỗi lao động đan giỏ có thu nhập thêm cho gia đình mỗi tuần khoảng 500.000 đồng.

Từ 5.000 sản phẩm, đến nay chúng tôi đã phối hợp với bà con ở nhiều địa phương tạo ra hơn 1 triệu sản phẩm. Hiện nay, chúng tôi đã ký với đối tác ở Úc và châu Âu và họ đã cam kết bao tiêu thụ sản phẩm từ 2023 đến nay. Hiện đang tiếp tục được triển khai, mô hình của chúng tôi may mắn cũng được Chính phủ Úc tài trợ.

Mô hình được kéo dài nhiều năm nay và giải quyết việc làm cho hàng nghìn phụ nữ ở nông thôn, kể cả người khuyết tật hay người lớn tuổi đều tham gia mô hình này. Không phải đi làm xa ở các tỉnh, thành phố khác, họ làm ở nhà, vừa làm vừa trông con, lo việc gia đình.

Không chỉ tạo việc làm, thu nhập cho người dân nông thôn, điều đặc biệt là khi xuất khẩu sản phẩm này, các doanh nghiệp xuất khẩu không phải trả bất cứ khoản phí gì về môi trường vì đã có những giấy chứng nhận về sản phẩm từ tự nhiên cũng như không khai thác từ việc phá rừng.

p1010863_1778769630.jpg
Sinh kế tốt nhờ cỏ năn tượng làm sản phẩm mỹ nghệ xuất khẩu.

PV: Từ thành công ban đầu này ông và các đồng nghiệp đang có những dự định gì trong tương lai để tiếp tục triển khai mô hình nông nghiệp tuần hoàn gắn với đảm bảo sinh kế cho người dân?

PGS, TS. Lê Anh Tuấn: Vừa qua chúng tôi đã thành lập Quỹ MCF (Quỹ Bảo tồn sông Mekong) quỹ có mục tiêu là duy trì và điều phối hoạt động trồng, khai thác những sản phẩm như cỏ năn tượng…

Hiện nay, mô hình chúng tôi đang muốn mở rộng và đi sâu hơn, chúng tôi có chính sách để kêu gọi các bạn trẻ đang đi làm thuê ở xa quay trở về quê, tham gia các khâu trong quy trình làm giỏ từ cỏ năn tượng.

Sau khi họ tiếp thu kiến thức một cách nhanh chóng, chính xác chúng tôi sẽ hướng dẫn các bạn trẻ này tham truyền đạt lại kiến thức cho người nông dân khác ở địa phương. Điều này không chỉ tận dụng được nguồn nhân lực trẻ ở địa phương mà hơn hết chúng tôi không phải mở các trung tâm dạy nghề. Chúng tôi trả lương hàng tháng cho những “giáo viên trẻ” này, khi họ có thu nhập rồi, họ có động lực để tiếp tục mở rộng ra.

Cho tới thời điểm bây giờ các sản phẩm này đều ổn định cả đầu vào và đầu ra, các đối tác nước ngoài cam kết tiếp tục đồng hành trong thời gian tới. Hiện chúng tôi đang cam kết với họ những vật liệu còn thừa khi sản xuất giỏ xong sẽ được gom đưa vào sản xuất giấy, làm thùng cát tông, ván ép… bước đầu đã có sản phẩm, từ những phế phẩm cỏ năn tượng.

Kinh nghiệm tôi đưa ra trong quá trình làm là cố gắng giảm bớt các thủ tục hành chính, như tổ chức đi vay ngân hàng, vì người dân làm kinh tế hộ gia đình với quy mô nhỏ mà thực hiện vay ngân hàng là một điều mới mẻ, khó thực hiện ở thực tế. Trong thời gian tới, tôi mong muốn ngoài khu vực đồng bằng sông Cửu Long sẽ mở rộng ra nhiều địa phương khác. 

PV: Xin cám ơn những chia sẻ của ông!

Lê Tâm