Thu hút hỗ trợ, sử dụng hiệu quả ứng phó biến đổi khí hậu

Thu hút hỗ trợ, sử dụng hiệu quả ứng phó biến đổi khí hậu

Chủ nhật, 16/8/2026, 16:22 (GMT+7)
logo Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những vấn đề nhận được sự quan tâm lớn của toàn hệ thống chính trị và các đối tác phát triển quốc tế. Thỏa thuận Paris có mục tiêu toàn cầu là điều chỉnh dòng tài chính phù hợp với lộ trình phát triển phát thải thấp và chống chịu với BĐKH, vì vậy nguồn lực quốc tế hỗ trợ cho ứng phó với BĐKH có thể ngày càng gia tăng. Là quốc gia có trách nhiệm và chủ động thực hiện các cam kết quốc tế về BĐKH và sử dụng hiệu quả các nguồn hỗ trợ, Việt Nam có cơ hội thu hút hỗ trợ quốc tế cho ứng phó với BĐKH.
thien-tai-1_1786419962.jpg
Ảnh minh họa

Nhu cầu hỗ trợ quốc tế về tài chính 

Ứng phó với BĐKH đòi hỏi sự quyết tâm, nỗ lực lớn của mọi quốc gia. Các quốc gia có điều kiện tự nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội, trình độ khoa học và công nghệ khác nhau nên có hành động ứng phó và ưu tiên khác nhau. Việc thống nhất nỗ lực chung của toàn thế giới thường mất nhiều thời gian hơn, có thể ảnh hưởng đến nỗ lực ứng phó với BĐKH và thực hiện Kế hoạch quốc gia tại Việt Nam. 

Nhu cầu về nguồn lực cho ứng phó BĐKH là rất lớn, cả về tài chính, công nghệ và nhân lực trong khi tiềm lực nền kinh tế chưa đủ khả năng đáp ứng. Chi phí cho thực hiện các biện pháp thích ứng với BĐKH ước tính khoảng 3 - 5% GDP vào năm 2030. Cùng với việc huy động nguồn lực, thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế trong nước, nguồn lực hỗ trợ về tài chính, công nghệ từ quốc tế là rất quan trọng để thực hiện các hoạt động thích ứng với BĐKH. 

Việt Nam là quốc gia chịu tổn thất và thiệt hại nặng nề do tác động của BĐKH cần được huy động mọi nguồn lực để nâng cao khả năng chống chịu và triển khai các giải pháp thích ứng với BĐKH, trong đó sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế là rất quan trọng. Theo số liệu báo cáo Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) của Việt Nam, nhu cầu tài chính cho thích ứng với BĐKH vào năm 2030 ước tính trong giai đoạn 2021 - 2030 cần khoảng 54,99 - 91,65 tỷ USD theo giá trị hiện tại ròng năm 2020 với tỷ lệ chiết khấu 10%. Nếu trong giai đoạn 2021 - 2030, Việt Nam tiếp tục thực hiện phương án chi 1,5% GDP cho thích ứng với BĐKH thì bình quân mỗi năm cần huy động vốn ngoài ngân sách khoảng 2,75 - 6,42 tỷ USD, hay khoảng 27,5 - 64,16 tỷ USD cho giai đoạn 2021 - 2030.

Theo Báo cáo quốc gia về khí hậu và phát triển của Ngân hàng Thế giới, các tác động của BĐKH có thể khiến Việt Nam thiệt hại tổng cộng 12 - 14,5% GDP, tương đương tổng thiệt hại là 400 - 523 tỷ USD tính đến năm 2050. Tổng nhu cầu đầu tư thêm về tài chính cho thích ứng từ năm 2022 đến năm 2040 ước tính khoảng 254 tỷ USD, bao gồm khoảng 219 tỷ USD đầu tư cho hạ tầng và 35 tỷ USD đầu tư cho các chương trình xã hội tăng cường năng lực thích ứng với BĐKH. Bằng nguồn lực trong nước, Việt Nam khó có khả năng đáp ứng nếu không có sự đóng góp từ các nguồn bên ngoài, trong đó có khuyến khích đầu tư tư nhân (cả vào công nghệ và cơ sở hạ tầng có khả năng chống chịu hơn); tài trợ từ ngân sách bằng cách nâng cao nguồn thu bổ sung (từ thị trường các-bon, vốn vay để giảm gánh nặng cho Chính phủ); huy động thêm nguồn thu từ các nguồn tài chính quốc tế (từ các tổ chức đầu tư, các nhà tài trợ đa phương và song phương, đồng thời khai thác nguồn FDI).

Do đó, cùng với việc huy động nguồn lực, thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế trong nước, nguồn lực hỗ trợ về tài chính, công nghệ từ các nguồn hợp tác quốc tế là rất quan trọng để thực hiện các mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính và thích ứng với BĐKH.

Nhu cầu hỗ trợ quốc tế để nâng cao khả năng chống chịu và năng lực thích ứng, phát triển nguồn nhân lực phục vụ thích ứng với BĐKH ở nước ta, bao gồm việc: Xây dựng chính sách về BĐKH, hỗ trợ xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách ứng phó với BĐKH; xây dựng cơ chế, chính sách về bảo hiểm, chia sẻ rủi ro khí hậu; xây dựng cơ chế, chính sách lồng ghép nội dung ứng phó với BĐKH vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các dự án, công trình lớn; xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, hướng dẫn kỹ thuật chuyên ngành của các lĩnh vực nhằm nâng cao khả năng chống chịu và năng lực thích ứng của hệ thống tự nhiên, kinh tế và xã hội. Đào tạo đội ngũ cán bộ, hỗ trợ đào tạo cán bộ quản lý nhà nước các cấp về lập kế hoạch, triển khai thực hiện, giám sát và đánh giá hoạt động thích ứng với BĐKH; đào tạo cán bộ khoa học, kỹ thuật có trình độ cao trong các lĩnh vực chuyên ngành ứng phó BĐKH; đào tạo cán bộ trong giảm thiểu tổn thất và thiệt hại do BĐKH.

Về thu hút nguồn lực tăng cường khả năng chống chịu và an toàn trước thiên tai gia tăng do BĐKH, nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm, bao gồm: Dự báo, cảnh báo thiên tai và các cực đoan khí hậu; ưu tiên phát triển các công nghệ dự báo mưa định lượng; cảnh báo, dự báo lũ quét, sạt lở đất; dự báo dựa trên tác động; dự báo dịch bệnh cho cây trồng, vật nuôi trong điều kiện BĐKH; giám sát, dự báo, cảnh báo tác động của BĐKH đến sức khỏe và các bệnh mới phát sinh do tác động của BĐKH.

Nhu cầu hỗ trợ quốc tế để nâng cao hạ tầng thích ứng với BĐKH: Trồng và bảo vệ rừng, ưu tiên rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng ngập mặn và rừng phòng hộ ven biển; bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn các hệ sinh thái, ưu tiên phát triển các khu bảo tồn biển và ven biển; phát triển các mô hình thích ứng dựa vào tự nhiên, dựa vào hệ sinh thái, bảo đảm sinh kế bền vững cho người dân; nâng cao khả năng chống chịu trước thiên tai và tác động của BĐKH đối với khu vực ven biển; nâng cấp, bảo đảm an toàn trước thiên tai gia tăng do BĐKH cho các hồ, đập và hệ thống đê sông, đê biển; chống sạt lở bờ sông, bờ biển; xây dựng, nâng cấp các khu neo đậu tàu thuyền chống bão; chống ngập lụt cho các đô thị lớn, đặc biệt là Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ; nhà ở an toàn trước bão, lũ cho người dân ở các vùng có nguy cơ cao; tăng cường trang thiết bị cho công tác tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn.

Thu hút nguồn lực hỗ trợ quốc tế nhằm nâng cao nghiên cứu, chuyển giao công nghệ thích ứng với BĐKH: Nghiên cứu giảm thiểu tổn thất và thiệt hại do BĐKH; nghiên cứu, chuyển giao các công nghệ tiên tiến trong thích ứng với BĐKH; chuyển giao công nghệ phát triển nông nghiệp thông minh; phát triển, chuyển giao các giống cây trồng, vật nuôi thích ứng với BĐKH; nghiên cứu và chuyển giao công nghệ về chống sạt lở bờ sông, bờ biển; sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả; chống suy thoái, ô nhiễm nước; các giải pháp làm mát ở khu vực đô thị; quy hoạch, thiết kế đô thị thông minh thích ứng BĐKH; phòng, chống cháy rừng.

Một số nhiệm vụ trong thời gian tới

Đến nay, Việt Nam đã tham gia 19 điều ước, thỏa thuận quốc tế trong lĩnh vực BĐKH. Tại COP26, Việt Nam đã cam kết đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, giảm phát thải khí mê-tan 30% vào năm 2030 so với năm 2020, Tuyên bố toàn cầu về chuyển đổi điện than sang năng lượng sạch,... Sau COP26, Việt Nam đã đàm phán và thông qua Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng với Nhóm các đối tác quốc tế trong và ngoài G7. Đó là những điểm nhấn quan trọng trong bức tranh hội nhập của đất nước với quốc tế về BĐKH, qua đó khẳng định vị thế, mang lại cho Việt Nam những lợi ích “kép” từ cơ hội tiếp cận tri thức, công nghệ, tài chính xanh, thực hiện tái cơ cấu lại nền kinh tế cũng như chủ động ứng phó với BĐKH. Ứng phó với BĐKH trên toàn cầu và ở nước ta đã chuyển sang một giai đoạn mới, với những cơ hội từ việc Việt Nam đã và đang tham gia sâu và thực chất vào nỗ lực chung của toàn cầu.

Trước xu thế BĐKH và bối cảnh toàn cầu mới, Việt Nam đã chủ động ứng phó với BĐKH thông qua việc hoàn thiện thể chế, chính sách quản lý về BĐKH. Các cam kết của Việt Nam về ứng phó với BĐKH được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, tuy nhiên để hiện thực hóa các cam kết đó cũng đặt ra những thách thức lớn đối với Việt Nam trong thời gian tới, đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách, huy động hỗ trợ của quốc tế về nguồn lực tài chính, chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản trị.

Nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về ứng phó BĐKH cũng như để phát huy hiệu quả việc sử dụng các nguồn lực trong bối cảnh mới, một số giải pháp, nhiệm vụ trọng tâm, ứng phó với BĐKH được Cục BĐKH đề xuất, như: Nghiên cứu xây dựng Nghị quyết chuyên đề về bảo vệ môi trường và ứng phó với BĐKH để trình Ban Chấp hành Trung ương vào năm 2027, nhằm thực hiện Kết luận số 81-KL/TW ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa XI về chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Nghiên cứu đề xuất và xây dựng Luật BĐKH để trình Quốc hội xem xét, thông qua vào năm 2029 nhằm thể chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về trung hòa các-bon, bảo vệ tầng ô-dôn và thích ứng với BĐKH; tạo khung pháp lý đồng bộ, thống nhất về thích ứng với BĐKH, giảm phát thải và tăng cường hấp thụ khí nhà kính trong các lĩnh vực của nền kinh tế, thúc đẩy các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân tham gia. Hoàn thiện các quy định pháp lý về trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon với quốc tế, làm cơ sở triển khai hợp tác trao đổi kết quả giảm phát thải và tín chỉ các-bon với các đối tác quốc tế. Triển khai phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính cho các cơ sở phát thải khí nhà kính, tổ chức vận hành thị trường các-bon trong nước đồng thời với việc triển khai thực hiện các cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon. Triển khai thực hiện tốt các cam kết ứng phó với BĐKH, trong đó tập trung xây dựng và triển khai thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định giai đoạn 2026 - 2035; thực hiện Chiến lược quốc gia về BĐKH hướng tới mục tiêu đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 và các kế hoạch hành động quốc gia về giảm phát thải khí nhà kính, bảo vệ tầng ô-dôn và thích ứng với BĐKH...

Nguyễn Hoàng