Tiến sĩ Trần Thế Mưu: Chuyển đổi số mở hướng nuôi biển xa bờ hiện đại

Tiến sĩ Trần Thế Mưu: Chuyển đổi số mở hướng nuôi biển xa bờ hiện đại

Thứ ba, 8/9/2026, 06:57 (GMT+7)
logo Trước thực tế nuôi thủy sản chủ yếu bằng lồng bè ven bờ, ngành Thủy sản Việt Nam đang từng bước chuyển sang mô hình nuôi biển công nghiệp, quy mô lớn và nuôi xa bờ. Theo TS. Trần Thế Mưu, Phó Giám đốc Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam, ứng dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI), cảm biến, quan trắc môi trường và camera giám sát,... sẽ tạo nền tảng quan trọng để quản lý vùng nuôi từ xa, giảm chi phí, kiểm soát rủi ro và nâng cao hiệu quả sản xuất.

Vai trò to lớn của khoa học công nghệ và chuyển đổi số đối với nuôi biển xa bờ

Trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, hình thức nuôi truyền thống bằng lồng bè ven bờ vẫn khá phổ biến. Người nuôi thường lựa chọn những khu vực kín gió, gần đất liền để thuận tiện chăm sóc, quản lý và vận chuyển.

Mô hình này phù hợp với sản xuất quy mô hộ gia đình, song cũng bộc lộ những hạn chế khi ngành nuôi biển đứng trước yêu cầu mở rộng quy mô, nâng cao năng suất và giảm áp lực lên không gian ven bờ.

Trong khi đó, nhiều quốc gia có nghề nuôi biển phát triển đang chuyển dần sang mô hình nuôi công nghiệp, quy mô lớn và hướng ra xa bờ. Đây được xem là hướng đi nhằm khai thác hiệu quả hơn không gian mặt nước biển, đồng thời giảm áp lực về môi trường và mật độ nuôi tại vùng ven bờ.

“Đối với nuôi biển xa bờ, việc ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số có vai trò đặc biệt rõ nét”, TS. Trần Thế Mưu, Phó Giám đốc Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam nhận định.

ts.-muu_1788686906.jpg
TS. Trần Thế Mưu, Phó Giám đốc Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam

Một ví dụ được ông dẫn chứng là Na Uy. Dù điều kiện tự nhiên không phải lúc nào cũng thuận lợi cho hoạt động nuôi biển xa bờ, quốc gia này đã phát triển ngành nuôi biển quy mô lớn, trong đó nổi bật là nuôi cá hồi bằng hệ thống lồng HDPE thân thiện với môi trường.

Để đạt sản lượng cao, công nghệ được đưa vào nhiều công đoạn, từ chọn tạo giống, chăm sóc, quản lý đàn nuôi đến thu hoạch. Quá trình số hóa và tự động hóa giúp giảm sự phụ thuộc vào lao động trực tiếp, đồng thời nâng cao khả năng kiểm soát hoạt động sản xuất.

Đối với Việt Nam, khi đưa hoạt động nuôi ra xa đất liền, khoảng cách địa lý trở thành một trong những thách thức lớn. Nếu vẫn dựa chủ yếu vào phương thức thủ công, người nuôi phải huy động nhiều nhân lực, phương tiện và thời gian để kiểm tra, chăm sóc các lồng nuôi.

Công nghệ số có thể thay đổi phương thức quản lý, từ kiểm tra trực tiếp sang theo dõi, giám sát và phân tích dữ liệu theo thời gian thực.

Một trong những hướng ứng dụng là xây dựng hệ thống thiết bị phục vụ quản lý lồng nuôi xa bờ. Doanh nghiệp có thể trang bị phương tiện vận chuyển, chăm sóc, quản lý lồng nuôi, đồng thời lắp đặt cảm biến theo dõi các yếu tố môi trường nước và camera giám sát hoạt động, hành vi của đàn cá.

Các thiết bị liên tục thu thập dữ liệu về môi trường, sức khỏe và hoạt động của vật nuôi. Dữ liệu được truyền về trung tâm điều hành trên bờ để lưu trữ, phân tích và hỗ trợ đưa ra quyết định sản xuất.

Từ đó, người nuôi có thể xác định thời điểm cần kiểm tra đàn cá, điều chỉnh lượng thức ăn, theo dõi những thay đổi bất thường của môi trường nước và kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh.

Đây là yếu tố có ý nghĩa quan trọng với nuôi biển xa bờ, bởi người nuôi không thể thường xuyên có mặt tại tất cả các khu vực sản xuất. Khi dữ liệu được kết nối và phân tích liên tục, hoạt động quản lý sẽ chủ động hơn, thay vì chỉ xử lý khi sự cố xảy ra.

a-muu-2_1788687175.jpg
TS. Trần Thế Mưu trao đổi với phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường về phát triển nuôi biển xa bờ

Đặc biệt, AI có thể mở rộng khả năng phân tích dữ liệu. Các hệ thống thông minh có thể được nghiên cứu để nhận diện những thay đổi bất thường trong hành vi của đàn cá, đưa ra cảnh báo sớm và hỗ trợ khuyến nghị trong quá trình sản xuất. Theo TS. Trần Thế Mưu: Đây là nền tảng để hình thành mô hình nuôi biển thông minh, trong đó quyết định sản xuất được hỗ trợ bởi dữ liệu, kết hợp với kinh nghiệm thực tế của người nuôi.

Dù có nhiều tiềm năng, ứng dụng công nghệ trong nuôi biển xa bờ tại Việt Nam mới ở giai đoạn đầu. Một số doanh nghiệp đã chủ động đầu tư, thử nghiệm mô hình nuôi biển công nghiệp, xa bờ và từng bước đưa công nghệ số vào quản lý sản xuất.

Tại Khánh Hòa và một số địa phương có thế mạnh về nuôi biển, đã xuất hiện những doanh nghiệp triển khai hệ thống lồng nuôi xa bờ, đồng thời nghiên cứu ứng dụng thiết bị giám sát, quan trắc môi trường và quản lý đàn nuôi.

Tuy nhiên, số lượng mô hình này chưa nhiều. Quá trình chuyển đổi số trong nuôi biển vẫn cần thêm thời gian để hoàn thiện cả về công nghệ, hạ tầng, nhân lực và quy trình vận hành.

Đầu tư thiết bị mới chỉ là một phần của quá trình chuyển đổi. Để công nghệ phát huy hiệu quả, cần xây dựng hệ thống kết nối đồng bộ từ khu vực nuôi ngoài biển đến trung tâm điều hành trên bờ.

Cùng với đó là đội ngũ nhân lực có khả năng vận hành thiết bị, phân tích dữ liệu và xử lý các tình huống phát sinh. Đây là điều kiện cần thiết để biến dữ liệu thu thập được thành thông tin phục vụ quyết định sản xuất.

ts_1788687460.png
Trụ sở Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam

Khi ngành nuôi biển chuyển từ quy mô nhỏ lẻ sang sản xuất công nghiệp, nhu cầu ứng dụng công nghệ số được dự báo ngày càng lớn. Công nghệ có thể hỗ trợ giảm chi phí nhân công, nâng cao khả năng kiểm soát môi trường, phát hiện sớm rủi ro và sử dụng thức ăn hiệu quả hơn.

Phát triển nuôi biển xa bờ cần được tiếp cận theo hướng quy hoạch không gian biển

Về tiềm năng phát triển nuôi biển xa bờ, mỗi vùng biển có những đặc điểm khác nhau về độ sâu, dòng chảy, độ mặn, độ trong và sức tải môi trường. Vì vậy, việc lựa chọn khu vực nuôi cần dựa trên điều kiện tự nhiên và đặc điểm của từng đối tượng thủy sản.

Qua thực tế nghiên cứu, khu vực biển miền Trung, đặc biệt từ Đà Nẵng trở vào đến Thành phố Hồ Chí Minh, có nhiều lợi thế để phát triển nuôi biển xa bờ.

Một số khu vực có độ sâu lớn, độ trong nước cao, độ mặn tương đối ổn định và ít chịu tác động trực tiếp của dòng nước từ cửa sông. Những điều kiện này tạo thuận lợi cho phát triển mô hình nuôi biển công nghiệp, quy mô lớn.

Đưa hệ thống lồng nuôi tới những khu vực có điều kiện môi trường phù hợp sẽ giúp mở rộng không gian sản xuất, giảm áp lực đối với vùng ven bờ và tạo điều kiện hình thành các vùng nuôi tập trung.

Tuy nhiên, theo TS. Trần Thế Mưu, không phải vùng biển nào có độ sâu lớn cũng phù hợp với nuôi xa bờ. Các yếu tố như dòng chảy, chất lượng nước, độ sâu, sức tải môi trường, điều kiện thời tiết, khả năng tiếp cận và đặc điểm sinh học của từng đối tượng nuôi cần được đánh giá đồng bộ trước khi triển khai.

Bên cạnh miền Trung, vùng biển Tây Nam Bộ cũng có tiềm năng. Khu vực Kiên Giang (cũ) và vùng biển xung quanh Phú Quốc có những điều kiện phù hợp với một số đối tượng nuôi và có thể được nghiên cứu để xây dựng các mô hình nuôi biển công nghiệp trong thời gian tới.

nb_1788687609.png
Đưa hệ thống lồng nuôi tới những khu vực có điều kiện môi trường phù hợp sẽ giúp mở rộng không gian sản xuất.

Việc phát triển tại những khu vực này cần gắn với đánh giá sức tải môi trường, khả năng thích ứng sinh thái và lựa chọn đối tượng nuôi phù hợp.

TS. Trần Thế Mưu cho biết: Công nghệ cần được đặt trong một hệ thống tổng thể gồm hạ tầng, con người, phương tiện và cơ chế quản lý. Từ cảm biến đo môi trường, camera giám sát, thiết bị thu thập dữ liệu đến hệ thống phân tích và điều hành trên bờ, toàn bộ quá trình sản xuất có thể từng bước được kết nối thành một chuỗi quản lý thống nhất.

Khi dữ liệu được cập nhật liên tục, doanh nghiệp có thêm cơ sở để điều chỉnh hoạt động sản xuất, sử dụng thức ăn hợp lý, giảm nhân công, phát hiện sớm bất thường và chủ động ứng phó với những thay đổi của môi trường.

“Trong thời gian tới, khi nuôi biển chuyển mạnh từ quy mô nhỏ lẻ sang nuôi biển công nghiệp, xa bờ, nhu cầu ứng dụng công nghệ số sẽ ngày càng lớn” - TS. Trần Thế Mưu nhận định.

Từ miền Trung đến vùng biển Tây Nam Bộ, Việt Nam sở hữu những không gian biển giàu tiềm năng để mở rộng nuôi trồng thủy sản. Song, để biến tiềm năng thành giá trị kinh tế, việc lựa chọn vùng nuôi, đối tượng nuôi, công nghệ và phương thức quản lý cần được thực hiện trên cơ sở khoa học.

Trong tiến trình đó, chuyển đổi số được kỳ vọng trở thành công cụ quan trọng giúp quản lý những vùng sản xuất cách xa đất liền, đưa dữ liệu vào quá trình ra quyết định và từng bước hình thành phương thức nuôi biển công nghiệp phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Sỹ Tùng - Mạnh Hải