TS. Nguyễn Quang Hải: "Phải coi đất như một cơ thể sống"

TS. Nguyễn Quang Hải: "Phải coi đất như một cơ thể sống"

Thứ ba, 1/9/2026, 04:04 (GMT+7)
logo Đất là một hệ sinh thái sống, nơi diễn ra đồng thời các quá trình vật lý, hóa học và sinh học quyết định khả năng nuôi dưỡng cây trồng, lưu giữ nước, carbon và duy trì sự cân bằng của hệ sinh thái. Khi sức khỏe đất suy giảm, nền nông nghiệp cũng đứng trước nguy cơ mất đi nền tảng phát triển lâu dài.

Từ góc độ nghiên cứu đất đai và dinh dưỡng cây trồng, TS. Nguyễn Quang Hải, Phó Viện trưởng phụ trách Viện Thổ nhưỡng nông hóa cho rằng, đất cần được nhìn nhận như một “hệ sinh thái sống”. Sức khỏe đất không chỉ được đo bằng độ phì nhiêu mà còn bao gồm khả năng duy trì các chức năng sinh học, vật lý, hóa học, bảo đảm năng suất cây trồng, chất lượng môi trường và đa dạng sinh học.

Theo cách nhìn này, đất cũng có trạng thái “khỏe” và “ốm”. Một nền đất có cấu trúc tốt, giàu chất hữu cơ, có hệ vi sinh vật phong phú, giữ được nước và dinh dưỡng chính là một nền đất khỏe. Ngược lại, khi đất trở nên chai cứng, chua hóa, mất chất hữu cơ, mất cân bằng dinh dưỡng hoặc suy giảm sinh vật có ích, đó là những dấu hiệu cho thấy “cơ thể” của đất đang suy yếu.

Đất cũng biết “mệt”

Trong nhiều năm, câu chuyện về đất nông nghiệp thường được đặt trong mối quan hệ với năng suất. Một thửa ruộng cho năng suất cao được xem là đất tốt, một vùng đất cho sản lượng thấp được coi là đất xấu. Tuy nhiên, cách nhìn này đang dần bộc lộ những giới hạn khi nền nông nghiệp đang phải đối mặt với biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên và yêu cầu chuyển sang mô hình xanh, phát thải thấp.

1_1788138353.jpg
Theo các nhà khoa học, đất cần được "đối xử" như một cơ thể sống, có sức khỏe riêng

Thực tế sản xuất đang cho thấy những cảnh báo không thể xem nhẹ đối với sức khỏe đất. Nhiều nghiên cứu cho thấy, sau 20 - 30 năm canh tác, phần lớn đất nông nghiệp ở Việt Nam đã có biểu hiện chặt hơn, chua hơn, hàm lượng chất hữu cơ giảm từ 20 - 50%, khả năng giữ nước và dinh dưỡng suy giảm, trong khi một số tác nhân gây hại có xu hướng gia tăng.

Đáng chú ý, tình trạng này không chỉ xuất hiện ở một vài vùng sản xuất mà diễn ra ở nhiều vùng sinh thái, từ miền núi, trung du đến đồng bằng, từ các vùng chuyên canh cây công nghiệp đến những vùng sản xuất lúa trọng điểm.

Do đó, nếu coi đất như một cơ thể sống, những gì đang diễn ra trên đồng ruộng có thể được xem là dấu hiệu của một quá trình suy yếu kéo dài.

TS. Nguyễn Quang Hải cho biết, ở vùng trung du và miền núi, xói mòn và rửa trôi là một trong những nguyên nhân hàng đầu. Do địa hình dốc khiến lớp đất mặt, nơi tập trung nhiều chất hữu cơ và dinh dưỡng, dễ bị cuốn trôi khi mưa lớn. Khi tầng đất màu mất đi, đất nghèo dinh dưỡng hơn, khả năng giữ nước giảm, kết cấu đất bị phá vỡ và quá trình chua hóa diễn ra mạnh hơn.

2_1788138349.jpg
Đất "khỏe" cũng đồng nghĩa với năng suất cây trồng tăng

Trong khi đó, tại Tây Nguyên, tình trạng độc canh cây cà phê kéo dài làm độ pH đất giảm, hàm lượng chất hữu cơ suy kiệt, đất chai cứng và khả năng hấp thu dinh dưỡng suy giảm. Với những vùng trồng sắn trên đất dốc, chỉ sau 2 - 3 năm canh tác, hàm lượng chất hữu cơ có thể giảm 40 - 60%, kéo theo năng suất thấp hơn đáng kể so với thời điểm mới khai phá.

Tại Đồng bằng sông Cửu Long, “sức khỏe” của đất chịu thêm áp lực từ xâm nhập mặn, nước biển dâng và sự suy giảm nguồn nước ngọt từ thượng nguồn. Nước mặn đi sâu vào nội đồng làm thay đổi tính chất đất, ảnh hưởng khả năng hấp thu dinh dưỡng và gây khó khăn cho sản xuất.

Đáng lo ngại hơn, theo đánh giá, cả nước hiện có hơn 11,8 triệu ha đất bị thoái hóa ở các mức độ khác nhau, trong đó hơn 1,2 triệu ha bị thoái hóa nặng. Đối với đất sản xuất nông nghiệp, một trong những nguyên nhân chủ yếu là canh tác liên tục, lạm dụng phân bón hóa học và chưa áp dụng phù hợp các biện pháp cải tạo đất.

“Đất mệt” không chỉ được nhận biết qua các chỉ số hóa học mà còn thể hiện ở sự suy giảm sức sống của hệ sinh thái đất. Từ vi sinh vật đến giun đất, mỗi nhóm sinh vật đều tham gia vào quá trình phân giải chất hữu cơ và chu trình dinh dưỡng. Khi hóa chất bảo vệ thực vật được sử dụng kéo dài, quần thể sinh vật đất có thể bị xáo trộn, khiến đất dần suy giảm khả năng tự cân bằng và phục hồi.

Đừng “bón thêm” khi đất đã suy kiệt

Một nghịch lý trong sản xuất nông nghiệp là khi năng suất giảm, phản ứng quen thuộc thường là tăng đầu vào: Tăng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và cường độ canh tác. Tuy nhiên, nếu nguyên nhân bắt nguồn từ sự suy giảm sức khỏe đất, cách làm này có thể chỉ giải quyết phần ngọn, trong khi vấn đề cốt lõi vẫn chưa được xử lý.

Nhiều nghiên cứu cho thấy, sử dụng quá nhiều phân bón vô cơ trong khi hạn chế phân hữu cơ có thể làm suy giảm hàm lượng chất hữu cơ, hệ vi sinh vật có lợi và khiến đất ngày càng chua. Bón phân mất cân đối, chủ yếu tập trung vào đạm, lân, kali mà thiếu các nguyên tố trung, vi lượng cũng làm gia tăng tình trạng mất cân bằng dinh dưỡng trong đất.

3_1788138343.jpg
Sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng phản ánh tình trạng đất "khỏe" hay "yếu"

Trong khi đó, chất hữu cơ lại chính là một trong những “nguồn sống” quan trọng của đất, góp phần cải thiện cấu trúc đất, tăng khả năng giữ nước, giữ dinh dưỡng và tạo môi trường cho hệ vi sinh vật phát triển. Vì vậy, phục hồi đất không đơn thuần là bổ sung phân bón mà cần phải khôi phục được cả hệ sinh vật bên trong đất.

Cách tiếp cận này đòi hỏi một sự thay đổi căn bản trong tư duy sản xuất: Chuyển từ khai thác đất sang chăm sóc đất, từ mục tiêu năng suất trước mắt sang duy trì sức sản xuất lâu dài.

Cần biết đất "mệt" ở đâu

TS. Nguyễn Quang Hải cho rằng, muốn đất khỏe, trước hết phải biết đất đang "mệt" ở đâu. Đây là lý do việc xây dựng hệ thống giám sát sức khỏe đất được đặt ra như một nhiệm vụ quan trọng. Thay vì chỉ đánh giá đất dựa trên năng suất hoặc độ phì, cần quan tâm đến hàm lượng chất hữu cơ, đa dạng sinh học, khả năng lưu giữ carbon và sức chống chịu của hệ sinh thái đất.

Mỗi vùng đất lại có một “thể trạng” khác nhau. Đất dốc cần ưu tiên chống xói mòn và bảo vệ tầng đất mặt. Đất bị mặn, phèn cần quản lý nước, bố trí cây trồng phù hợp và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu. Những vùng chuyên canh lâu năm cần chú trọng luân canh, xen canh, tăng che phủ đất và phục hồi chất hữu cơ.

Với đất dốc, các mô hình nông - lâm kết hợp, cây che phủ, ruộng bậc thang, trồng cỏ giữ đất và tăng độ che phủ rừng có thể góp phần hạn chế dòng chảy bề mặt, giảm mất đất và bảo vệ nguồn dinh dưỡng.

Ở các vùng sản xuất khác, luân canh cây trồng, xen canh cây họ đậu, tăng che phủ và áp dụng các biện pháp canh tác bảo tồn sẽ giúp cải thiện độ phì, tăng hoạt động của vi sinh vật đất, hạn chế sâu bệnh và giảm chi phí đầu vào.

4_1788138338.jpg
Cần phản chuyển từ tư duy "lấy gì từ đất" sang "làm gì cho đất"

Đặc biệt, khoa học và công nghệ có thể trở thành công cụ quan trọng để “chẩn đoán” và điều trị những vấn đề của đất. Từ phân bón thế hệ mới, phân nhả chậm, chế phẩm vi sinh, vật liệu cải tạo đất đến công nghệ nâng cao khả năng tích lũy carbon. Từ bản đồ sức khỏe đất đến cơ sở dữ liệu và các hệ thống cảnh báo nguy cơ suy thoái, những công cụ này có thể giúp chuyển quản lý đất từ kinh nghiệm sang quản lý dựa trên dữ liệu.

Một thách thức lớn là phục hồi đất cần thời gian, trong khi lợi ích kinh tế thường không xuất hiện ngay sau một vài vụ sản xuất. Người nông dân phải bỏ thêm chi phí cho phân hữu cơ, chế phẩm vi sinh, cây che phủ hoặc các biện pháp cải tạo, nhưng hiệu quả của việc đầu tư ấy có thể chỉ được nhìn thấy sau nhiều năm.

Vì vậy, nếu chỉ trông chờ vào sự tự nguyện của người sản xuất, quá trình phục hồi sức khỏe đất khó tạo ra chuyển biến đủ mạnh. Theo TS. Nguyễn Quang Hải, cần có một hệ thống chính sách để biến đầu tư cho sức khỏe đất thành một khoản đầu tư có lợi về lâu dài. Một Chương trình quốc gia về bảo vệ và phục hồi sức khỏe đất với mục tiêu, lộ trình và nguồn lực cụ thể có thể là nền tảng để triển khai đồng bộ. Cùng với đó là cơ chế hỗ trợ người dân chuyển đổi sang canh tác bảo vệ đất, ưu đãi doanh nghiệp đầu tư vào phân bón hữu cơ, chế phẩm sinh học và công nghệ phục hồi đất. Đồng thời nghiên cứu cơ chế chi trả cho những dịch vụ hệ sinh thái mà đất khỏe mang lại cho cộng đồng,...

Khi người nông dân giữ được chất hữu cơ, hạn chế xói mòn, tăng khả năng lưu giữ carbon và bảo vệ nguồn nước, lợi ích không chỉ dừng lại trên thửa ruộng mà còn lan tỏa tới cộng đồng. Xã hội được hưởng lợi từ giảm phát thải, bảo vệ nguồn nước và duy trì đa dạng sinh học. Đây cũng là cơ sở để xây dựng các cơ chế khuyến khích, trong đó người bảo vệ đất được hưởng lợi tương xứng với những giá trị môi trường mà họ tạo ra.

Một nền nông nghiệp bền vững không thể được xây dựng trên một nền đất đang suy kiệt. Năng suất có thể được thúc đẩy trong ngắn hạn bằng nhiều loại vật tư, nhưng năng lực sản xuất lâu dài chỉ có thể được duy trì khi đất còn khỏe.

“Chúng ta phải coi đất như một cơ thể sống, có nghĩa là chuyển từ tư duy “lấy gì từ đất” sang “làm gì cho đất”. Đó không chỉ là một thay đổi trong kỹ thuật canh tác, mà là thay đổi về tư duy phát triển. Chăm sóc đất hôm nay chính là bảo vệ năng suất, sinh kế của người nông dân, an ninh lương thực và khả năng chống chịu của nền nông nghiệp Việt Nam trong tương lai. Bảo vệ sức khỏe đất không còn là nhiệm vụ riêng của ngành nông nghiệp mà là trách nhiệm của toàn xã hội”, TS. Nguyễn Quang Hải nhấn mạnh.

Lê Hải - Sỹ Tùng