Hiện nay, khi biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng phức tạp thì tài nguyên đất trở thành yếu tố quyết định đối với sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp. Đối với vùng Trung du và miền núi phía Bắc (TDMNPB), đây là khu vực có địa hình dốc, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và chiếm phần lớn diện tích đất nông lâm nghiệp của cả nước nên việc quản lý sức khỏe đất không chỉ là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá mà còn là nền tảng để xây dựng nền nông nghiệp xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu và nâng cao sinh kế cho người dân.
Trong nhiều năm, đất đai thường được đánh giá thông qua độ phì nhiêu và khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng. Tuy nhiên, xu hướng phát triển nông nghiệp hiện đại đã mở rộng khái niệm này thành “sức khỏe đất”, coi khả năng của đất hoạt động như một hệ sinh thái sống, duy trì năng suất cây trồng, bảo vệ môi trường, điều hòa nguồn nước, lưu giữ carbon và hỗ trợ đa dạng sinh học.
Theo TS. Nguyễn Quang Hải, Phó Viện trưởng phụ trách Viện Thổ nhưỡng Nông hóa (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam), sức khỏe đất được đánh giá thông qua nhiều nhóm chỉ tiêu như tính chất vật lý, hóa học và sinh học của đất. Một loại đất được coi là khỏe mạnh khi có cấu trúc ổn định, giàu chất hữu cơ, cân bằng dinh dưỡng, duy trì được hệ vi sinh vật phong phú và có khả năng chống chịu trước các tác động bất lợi từ môi trường.
Trên thế giới, nhiều tổ chức quốc tế như FAO, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ hay Liên minh châu Âu đã đưa sức khỏe đất trở thành một trong những trụ cột của chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững. Các quốc gia phát triển đang từng bước xây dựng hệ thống quan trắc sức khỏe đất, khuyến khích canh tác thân thiện với môi trường và gắn quản lý đất với mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính.
Đối với Việt
Vùng TDMNPB là khu vực có diện tích tự nhiên lớn nhất cả nước, trải dài từ các tỉnh Tây Bắc đến Đông Bắc. Đây là nơi tập trung nhiều loại đất feralit đỏ vàng, đất mùn núi cao và đất phát triển trên đá mẹ khác nhau. Tuy nhiên, đặc điểm địa hình dốc, lượng mưa lớn tập trung theo mùa cùng với tập quán canh tác truyền thống đã khiến đất đai nơi đây dễ bị suy thoái.
Thực tế cho thấy, xói mòn đất đang là một trong những thách thức nghiêm trọng nhất. Tại nhiều khu vực trồng ngô, sắn trên đất dốc, mỗi năm có thể mất hàng chục tấn đất mặt trên mỗi hecta. Đây chính là lớp đất giàu dinh dưỡng và chất hữu cơ nhất, quyết định năng suất cây trồng. Khi lớp đất này bị cuốn trôi, đất trở nên bạc màu, khả năng giữ nước giảm mạnh và chi phí đầu tư sản xuất ngày càng tăng.
Không chỉ đối mặt với xói mòn, nhiều vùng đất canh tác còn đang bị suy giảm hàm lượng chất hữu cơ. TS. Nguyễn Quang Hải cho biết, kết quả khảo sát tại nhiều khu vực sản xuất nông nghiệp cho thấy hàm lượng hữu cơ trong đất đã giảm xuống dưới mức cần thiết cho sản xuất bền vững. Đất trở nên chua hơn, khả năng hấp thu dinh dưỡng của cây trồng giảm, trong khi nguy cơ độc nhôm và độc sắt gia tăng.
Ở những vùng chuyên canh cây ăn quả như cam, quýt hay chè… tình trạng mất cân bằng dinh dưỡng cũng xuất hiện ngày càng rõ nét. Việc người dân lạm dụng phân bón hóa học trong thời gian dài làm cho đất bị chua hóa, suy giảm vi sinh vật có lợi và mất cân đối giữa các nguyên tố dinh dưỡng. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến năng suất mà còn tác động tới chất lượng nông sản.
Một vấn đề đáng lo ngại khác là sự suy giảm đa dạng sinh học trong đất. Các loài giun đất, vi sinh vật có ích và nấm cộng sinh đang giảm dần do tác động của thuốc bảo vệ thực vật và canh tác không hợp lý. Khi hệ sinh thái đất bị tổn thương, khả năng tự phục hồi của đất cũng suy giảm đáng kể.
Theo TS. Nguyễn Quang Hải, nguyên nhân sâu xa dẫn tới tình trạng suy giảm sức khỏe đất tại vùng TDMNPB xuất phát từ phương thức sử dụng đất chưa bền vững.
Trong nhiều năm, việc mở rộng diện tích cây trồng trên đất dốc diễn ra khá phổ biến. Không ít diện tích rừng tự nhiên hoặc đất có độ dốc lớn được chuyển đổi sang trồng cây hàng năm mà chưa áp dụng đầy đủ các biện pháp bảo vệ đất. Hệ quả là xói mòn gia tăng, nguồn nước bị ảnh hưởng và đất nhanh chóng suy thoái.
Bên cạnh đó, việc canh tác độc canh kéo dài cũng làm giảm đa dạng sinh học và làm đất mất cân bằng dinh dưỡng. Nhiều hộ sản xuất vẫn phụ thuộc chủ yếu vào phân bón vô cơ, trong khi lượng phân hữu cơ được sử dụng còn hạn chế.
Theo đánh giá của các cơ quan chuyên môn, tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp được quản lý bền vững ở khu vực này vẫn còn thấp. Nhiều diện tích chưa được áp dụng các biện pháp như che phủ đất, canh tác theo đường đồng mức hay luân canh cây trồng hợp lý.
Nếu không có giải pháp kịp thời, quá trình suy thoái đất sẽ tiếp tục diễn ra, làm gia tăng chi phí sản xuất, giảm năng suất cây trồng và ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển nông nghiệp xanh của khu vực...
Mặc dù còn nhiều khó khăn, song tại nhiều địa phương vùng TDMNPB đã xuất hiện những mô hình quản lý đất mang lại hiệu quả rõ rệt.
Tại các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lào Cai… các mô hình nông lâm kết hợp đang được nhân rộng. Người dân trồng cây ăn quả xen với cây lâm nghiệp và các loại cỏ che phủ, vừa hạn chế xói mòn vừa nâng cao thu nhập. Hệ thống rễ của cây lâu năm giúp giữ đất, trong khi lớp thảm thực vật che phủ góp phần tăng hàm lượng hữu cơ và duy trì độ ẩm.
Ở nhiều vùng đất dốc, các biện pháp canh tác theo đường đồng mức, trồng cỏ Vetiver hay cỏ Guine đã chứng minh hiệu quả trong việc giảm lượng đất bị rửa trôi. Một số mô hình cho thấy lượng đất mất đi giảm nhiều lần so với phương thức canh tác truyền thống.
Trong trồng cây ăn quả, việc sử dụng phân hữu cơ, chế phẩm vi sinh và vật liệu che phủ đất đang giúp cải thiện đáng kể chất lượng đất. Không chỉ nâng cao năng suất, các biện pháp này còn góp phần phục hồi hệ vi sinh vật có lợi và giảm nhu cầu sử dụng phân bón hóa học.
Những kết quả bước đầu cho thấy, sức khỏe đất hoàn toàn có thể được cải thiện nếu áp dụng đúng giải pháp kỹ thuật và có sự đồng hành của các cơ quan chuyên môn.
Để bảo vệ và phục hồi sức khỏe đất vùng TDMNPB, TS. Nguyễn Quang Hải cho rằng, cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp như: Trước hết, cần tăng cường các biện pháp chống xói mòn và bảo vệ đất dốc. Việc mở rộng hệ thống ruộng bậc thang, trồng cây theo đường đồng mức, xây dựng băng cỏ chắn nước và tăng diện tích cây che phủ cần được xem là giải pháp ưu tiên.
Song song với đó, cần thúc đẩy phát triển các mô hình nông lâm kết hợp. Đây được đánh giá là hướng đi phù hợp với điều kiện địa hình miền núi, vừa bảo vệ đất vừa tạo nguồn thu nhập đa dạng cho người dân. Bên cạnh đó, việc nâng cao hàm lượng chất hữu cơ trong đất cũng đóng vai trò then chốt. Các địa phương cần khuyến khích sử dụng phân hữu cơ, phân vi sinh, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để sản xuất phân compost và phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp.
Ngoài ra, quản lý phân bón theo nguyên tắc “4 đúng” gồm đúng loại, đúng liều lượng, đúng thời điểm và đúng phương pháp cần được phổ biến rộng rãi nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng dinh dưỡng và giảm nguy cơ ô nhiễm môi trường. Đồng thời, đa dạng hóa cây trồng, tăng cường luân canh với cây họ đậu và cây che phủ cũng là giải pháp quan trọng giúp cải thiện độ phì đất, hạn chế sâu bệnh và nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống sản xuất.
Một trong những xu hướng nổi bật hiện nay là ứng dụng công nghệ số trong quản lý sức khỏe đất. Các địa phương sớm xây dựng cơ sở dữ liệu số về đất đai và sức khỏe đất cho toàn vùng TDMNPB. Hệ thống này sẽ tích hợp thông tin về chất lượng đất, độ phì nhiêu, nguy cơ xói mòn, mức độ thoái hóa và khả năng thích hợp của từng loại cây trồng. Ngoài ra, việc ứng dụng công nghệ viễn thám, thiết bị bay không người lái (UAV) và cảm biến thông minh có thể hỗ trợ theo dõi diễn biến đất đai theo thời gian thực. Nhờ đó, các cơ quan quản lý và người sản xuất có thể phát hiện sớm các nguy cơ suy thoái, hạn hán hoặc mất cân bằng dinh dưỡng để có biện pháp xử lý kịp thời.
Bên cạnh đó, việc xây dựng các nền tảng WebGIS và bản đồ số đất đai cũng sẽ hỗ trợ hiệu quả cho công tác quy hoạch sản xuất, lựa chọn cây trồng phù hợp và nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên đất.
Trong chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững, đất không chỉ là tư liệu sản xuất mà còn là nguồn tài nguyên cần được bảo vệ và tái tạo. Đối với vùng TDMNPB, nơi phần lớn sinh kế của người dân gắn liền với nông nghiệp và lâm nghiệp, quản lý sức khỏe đất càng có ý nghĩa quan trọng.
Việc phục hồi và duy trì sức khỏe đất sẽ góp phần nâng cao năng suất cây trồng, giảm chi phí đầu vào, tăng khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường sinh thái. Đồng thời, đây cũng là điều kiện tiên quyết để phát triển các mô hình nông nghiệp xanh, nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp phát thải thấp.
TS. Hải cho rằng, trong thời gian tới, cùng với sự hỗ trợ của các cơ quan quản lý, nhà khoa học và doanh nghiệp, việc xây dựng hệ thống quản lý sức khỏe đất hiện đại, đồng bộ sẽ tạo nền tảng vững chắc cho quá trình chuyển đổi nông nghiệp của vùng TDMNPB theo hướng bền vững. Khi đất được chăm sóc và phục hồi đúng cách, nông nghiệp miền núi phía Bắc sẽ có thêm động lực để phát triển xanh hơn, hiệu quả hơn và thích ứng tốt hơn với những thách thức của tương lai.