news
TS. Tạ Đình Thi: Sửa Luật Bảo vệ môi trường để kiến tạo mô hình quản trị hiện đại, dẫn dắt chuyển đổi xanh

TS. Tạ Đình Thi: Sửa Luật Bảo vệ môi trường để kiến tạo mô hình quản trị hiện đại, dẫn dắt chuyển đổi xanh

Thứ năm, 23/4/2026, 07:21 (GMT+7)
logo Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng cao đi đôi với bền vững, việc sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường 2020 không chỉ nhằm khắc phục những bất cập sau 5 năm thực thi, mà còn mang ý nghĩa định hình lại cách thức quản trị môi trường của quốc gia. Phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với TS. Tạ Đình Thi - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội để làm rõ những định hướng lớn, những điểm đột phá và thông điệp chính sách của lần sửa luật này.

TS. Tạ Đình Thi: “Thể chế phải đi trước một bước để dẫn dắt chuyển đổi xanh và nâng cao chất lượng tăng trưởng”

dbqh-ta-dinh-thi20250113200555_1776826760.jpg
TS. Tạ Đình Thi - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội

Nhìn thẳng vào yêu cầu mới của phát triển: Không thể tiếp cận môi trường theo cách cũ

PV: Thưa ông, ông đánh giá như thế nào về sự cần thiết sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường vào thời điểm hiện nay?

TS. Tạ Đình Thi:

Việc sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường 2020 lần này là một yêu cầu khách quan, xuất phát từ cả thực tiễn trong nước và bối cảnh quốc tế.

Trước hết, sau gần 5 năm triển khai, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã tạo ra những chuyển biến quan trọng trong tư duy và phương thức quản lý. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy một số bất cập, như sự chồng chéo giữa các quy định pháp luật, một số thủ tục hành chính còn phức tạp, chi phí tuân thủ vẫn là gánh nặng đối với doanh nghiệp trong một số trường hợp.

Quan trọng hơn, bối cảnh phát triển đã thay đổi rất nhanh. Việt Nam đã và đang đứng trước yêu cầu vừa duy trì tốc độ tăng trưởng hai con số một cách bền vững, vừa phải chuyển đổi sang mô hình phát triển xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế các-bon thấp. Đây không chỉ là lựa chọn mà là yêu cầu bắt buộc về phát triển của Việt Nam gắn với các cam kết quốc tế và áp lực hội nhập.

Đặc biệt, từ cuối năm 2024 đến nay, Bộ Chính trị đã ban hành 09 nghị quyết chiến lược trên các lĩnh vực then chốt, thể hiện tư duy đổi mới, tầm nhìn dài hạn và quyết tâm chính trị cao, tạo nền tảng đưa đất nước phát triển giàu mạnh, thịnh vượng. Các nghị quyết nêu trên đặt ra yêu cầu, định hướng mới đối với công tác bảo vệ môi trường, chuyển dịch tư duy từ “khắc phục ô nhiễm” sang “kiến tạo môi trường sống”, không đánh đổi môi trường sống lấy tăng trưởng kinh tế; coi bảo vệ môi trường là thành tố hữu cơ của mô hình kinh tế mới. Cùng với đó, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định và làm rõ hơn vai trò, vị thế của công tác bảo vệ môi trường trong giai đoạn phát triển mới, nhấn mạnh yêu cầu gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường với quan điểm “phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm”, thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược và tư duy chủ động của Đảng trong việc định hình con đường phát triển dài hạn cho đất nước.

Chính vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật lần này không đơn thuần là điều chỉnh kỹ thuật, mà là sự thể chế hoá kịp thời các chủ trương, chính sách mới của Đảng đối với công tác bảo vệ môi trường; điều chỉnh cách tiếp cận - từ quản lý hành chính truyền thống sang quản trị môi trường hiện đại, linh hoạt, thông minh và dựa trên quản lý tốt rủi ro, cụ thể hoá các định hướng về phát triển kinh tế, xã hội, ứng phó với biến đổi khí hậu.

a_1776827212.jpg
Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội thảo lấy ý kiến góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường. Hội thảo do Thứ trưởng Lê Công Thành; Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Tạ Đình Thi; Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Nguyễn Quang Vinh đồng chủ trì, chiều ngày 17/4 tại Hà Nội.

Từ “quản lý” sang “quản trị”: Thay đổi cách Nhà nước can thiệp vào môi trường

PV: Ông vừa nhấn mạnh đến việc thay đổi cách tiếp cận. Vậy cụ thể, tư duy quản trị môi trường mới được thể hiện như thế nào trong dự thảo luật thưa ông?

TS. Tạ Đình Thi:

Điểm cốt lõi là chuyển từ mô hình “quản lý bằng mệnh lệnh hành chính” sang mô hình quản trị dựa trên rủi ro, dữ liệu và công cụ thị trường.

Thứ nhất, về quản lý tốt rủi ro, Cơ quan chủ trì soạn thảo đã thiết kế lại hệ thống tiêu chí phân loại dự án đầu tư theo mức độ nguy cơ tác động xấu đến môi trường trong dự thảo Luật. Những dự án có nguy cơ cao sẽ phải kiểm soát chặt chẽ hơn; trong khi đó, những dự án ít rủi ro sẽ được áp dụng thủ tục đơn giản hơn. Đây là cách tiếp cận rất tiến bộ, phù hợp với thông lệ quốc tế.

Thứ hai, về công cụ quản lý, luật không chỉ dừng lại ở các quy định hành chính mà mở rộng sang các công cụ kinh tế, đặc biệt là thị trường các-bon, tín chỉ các-bon, tín dụng xanh, mua sắm xanh. Điều này cho thấy tư duy đã thay đổi rất rõ: không chỉ kiểm soát mà còn tạo động lực kinh tế để thúc đẩy bảo vệ môi trường.

Thứ ba, về phương thức quản lý, có sự chuyển dịch mạnh từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”. Nhà nước không làm thay doanh nghiệp, mà tập trung vào giám sát, kiểm tra và xử lý vi phạm.

Có thể nói, đây là bước chuyển rất quan trọng, đưa quản trị môi trường của Việt Nam tiệm cận với các mô hình tiên tiến trên thế giới.

Cải cách thủ tục hành chính: Không để môi trường trở thành rào cản phát triển

PV: Một trong những nội dung được cộng đồng doanh nghiệp quan tâm là cải cách thủ tục hành chính môi trường. Quan điểm của ông về vấn đề này, thưa ông?

TS. Tạ Đình Thi:

Quan điểm rất rõ ràng: bảo vệ môi trường là yêu cầu bắt buộc, nhưng không được để thủ tục môi trường trở thành rào cản đối với quá trình và mục tiêu phát triển.

Tôi nhận thấy, đến nay Cơ quan chủ trì soạn thảo đã xây dựng dự thảo Luật lần này đã tiếp tục tinh gọn mạnh mẽ các thủ tục, đặc biệt là: (1) Phân luồng đánh giá tác động môi trường theo mức độ rủi ro; (2) Áp dụng thủ tục rút gọn đối với dự án ít tác động; (3) Tích hợp các thủ tục vào giấy phép môi trường. Điều này sẽ giúp giảm đáng kể thời gian, chi phí và nguồn lực cho doanh nghiệp.

Tuy nhiên, tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng, cải cách thủ tục không có nghĩa là buông lỏng quản lý. Ngược lại, khi thủ tục đầu vào được đơn giản hóa, thì yêu cầu tuân thủ trong quá trình vận hành phải chặt chẽ hơn. Điều này gắn với trách nhiệm theo phân cấp cùng với cơ chế hậu kiểm chặt chẽ.  

Đây là một sự cân bằng rất quan trọng, và nếu làm tốt, sẽ vừa bảo đảm mục tiêu môi trường, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư, sản xuất kinh doanh.

Phân cấp gắn với trách nhiệm: “Địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”

PV: Việc phân cấp, phân quyền cho địa phương được coi là một trong những điểm nhấn của dự thảo luật. Ông đánh giá như thế nào về nội dung này?

TS. Tạ Đình Thi:

Đây là một chủ trương lớn, nhất quán với định hướng của Đảng và Nhà nước về đổi mới tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý. Dự thảo luật đã phân cấp mạnh mẽ cho địa phương trong nhiều khâu, đặc biệt là thẩm định và cấp phép môi trường. Điều này giúp: Rút ngắn quy trình; Tăng tính linh hoạt; Phù hợp với đặc thù từng địa phương.

Nhưng điểm mới quan trọng là phân cấp đi liền với trách nhiệm. Việc quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu, đặc biệt là Chủ tịch UBND cấp tỉnh đối với các vấn đề ô nhiễm môi trường trên địa bàn, là một bước tiến rất đáng chú ý. Điều này sẽ góp phần khắc phục tình trạng “trên nóng, dưới lạnh” hoặc “đùn đẩy trách nhiệm” trong quản lý môi trường. Đồng thời, phát huy tối đa trách nhiệm và khả năng quản trị nhà nước của cấp địa phương, nhất là người đứng đầu, trong việc huy động và phát huy hiệu quả tối đa các nguồn lực của địa phương phục vụ cho quá trình phát triển bền vững.

Chuyển đổi số: Nền tảng của quản trị môi trường hiện đại

PV: Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường cũng đề cập nhiều đến chuyển đổi số trong quản lý môi trường. Ông nhìn nhận vai trò của yếu tố này như thế nào, thưa ông?

TS. Tạ Đình Thi:

Chuyển đổi số là nền tảng để nâng cao hiệu quả quản trị môi trường trong giai đoạn mới. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu môi trường, quản lý chất thải bằng hệ thống số, truy xuất thông tin theo thời gian thực sẽ giúp: Tăng tính minh bạch; Giảm chi phí quản lý; Nâng cao khả năng giám sát; Và đặc biệt là hỗ trợ ra quyết định chính sách kịp thời.

Trong tương lai, quản lý môi trường không thể chỉ dựa vào báo cáo giấy hay kiểm tra thủ công, mà phải dựa trên dữ liệu lớn và công nghệ số. Việc tăng cường các quy định về chuyển đổi số trong quản lý môi trường là cần thiết, góp phần thể chế hoá chủ trương, nhiệm vụ đề ra tại Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. 

Thông điệp chính sách: Không đánh đổi môi trường, nhưng cũng không để thể chế kìm hãm phát triển

PV: Từ góc độ cơ quan của Quốc hội, ông muốn gửi thông điệp gì tới các chủ thể trong quá trình xây dựng và hoàn chỉnh dự án Luật trong thời gian tới thưa ông?

TS. Tạ Đình Thi:

Tôi muốn nhấn mạnh ba thông điệp.

Thứ nhất, không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần - đây là quan điểm xuyên suốt và nhất quán.

Thứ hai, thể chế phải trở thành động lực, không phải rào cản. Việc sửa luật lần này chính là để khơi thông nguồn lực, tạo điều kiện cho phát triển xanh.

Thứ ba, trách nhiệm phải được chia sẻ và thực thi một cách nghiêm túc: Nhà nước kiến tạo và giám sát; Doanh nghiệp tuân thủ và đổi mới; Địa phương chủ động và chịu trách nhiệm; Người dân tham gia và giám sát.

Dự án Luật đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện, cần tiếp tục được quán triệt sâu sắc các quan điểm, chủ trương của Đảng, nhất là Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và các văn kiện liên quan; đồng thời phải bám sát tình hình thực tiễn của đất nước, cũng như bối cảnh phát triển trong giai đoạn mới. Chúng tôi rất hy vọng, việc sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường lần này sẽ đáp ứng được sự kỳ vọng lớn lao của cử tri và Nhân dân, để làm sao tạo ra bước chuyển biến thật sự trong công tác bảo vệ môi trường.

Nếu tất cả các chủ thể cùng hành động, chúng ta hoàn toàn có thể đạt được mục tiêu phát triển nhanh nhưng vẫn bền vững.

Sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường lần này không chỉ nhằm khắc phục những hạn chế của giai đoạn trước, mà còn mang ý nghĩa kiến tạo một nền tảng thể chế mới - nơi môi trường không còn là “chi phí phải gánh”, mà trở thành nguồn lực cho phát triển. Trong bối cảnh chuyển đổi xanh và cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, một hệ thống pháp luật hiện đại, linh hoạt và hiệu quả sẽ là yếu tố quyết định để Việt Nam vừa bảo vệ được môi trường sống, vừa nâng cao chất lượng tăng trưởng trong dài hạn.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

 

Hồng Minh (thực hiện)