news
Vân Đồn hướng tới nuôi biển xanh, hiện đại, bền vững

Vân Đồn hướng tới nuôi biển xanh, hiện đại, bền vững

Thứ năm, 27/8/2026, 14:09 (GMT+7)
logo Sở hữu lợi thế về điều kiện tự nhiên, vùng biển rộng và hệ sinh thái đa dạng, Vân Đồn có nhiều tiềm năng phát triển nuôi biển theo hướng tập trung, công nghệ cao và bền vững. Tuy nhiên, để chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang mô hình hiện đại, người nuôi vẫn cần được tháo gỡ những khó khăn về quy hoạch mặt nước, vốn, công nghệ, môi trường và thị trường. Phóng viên (PV) Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường có cuộc trao đổi với bà Phạm Thị Thu Hiền, Chi hội trưởng Chi hội Nuôi biển Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh về giải pháp phát triển nuôi biển theo tinh thần Nghị quyết 20-NQ/TW.
chi-hien-1_1787703556.jpg
Bà Phạm Thị Thu Hiền, Chi hội trưởng Chi hội Nuôi biển Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh 

PV: Thưa bà, từ thực tiễn hoạt động của Chi hội Nuôi biển Vân Đồn, bà đánh giá như thế nào về tiềm năng, lợi thế cũng như khó khăn trong phát triển nuôi biển tại Vân Đồn hiện nay? Đặc biệt, vấn đề quy hoạch, bố trí mặt nước và tổ chức lại sản xuất đang tác động như thế nào đến quá trình chuyển từ nuôi biển nhỏ lẻ sang nuôi biển tập trung, quy mô lớn?

Bà Phạm Thị Thu Hiền: Vân Đồn đang sở hữu một "mỏ vàng" sinh thái với diện tích mặt nước rộng lớn, kín gió, dòng hải lưu sạch và tính đa dạng sinh học cao. Đây là điều kiện tiên quyết để Vân Đồn trở thành "thủ phủ" của các loài thủy đặc sản có giá trị kinh tế cao như hàu bản địa, hàu Thái Bình Dương, cá song, ngao và các loại rong biển.

Tuy nhiên, từ thực tiễn hoạt động của Chi hội, tôi nhận thấy chúng ta đang đứng trước những "nút thắt" vô cùng lớn. Khó khăn lớn nhất nằm ở việc thiếu hụt đi các mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị của ngành nuôi biển: Không có nhà máy sản xuất giống lớn và hiện đại như ngành tôm, không có công nghệ và thiết bị quản lý vùng nuôi để chủ động canh tác đáp ứng sức tải của biển, thời tiết và thiên tai, tư duy sản xuất manh mún và sự thiếu hụt các quy trình nuôi khoa học và hiệu quả, hạ tầng logistics đồng bộ không có .

Đặc biệt, bài toán quy hoạch và giao mặt nước là điểm nghẽn cốt lõi nhất hiện nay. Để chuyển từ nuôi biển nhỏ lẻ sang nuôi biển công nghiệp quy mô lớn theo tinh thần Nghị quyết 20-NQ/TW, người dân và doanh nghiệp cần phải đầu tư nguồn vốn rất lớn vào công nghệ lồng bè vật liệu mới (như nhựa HDPE chịu sóng gió) và hệ thống máy móc tự động. Thế nhưng, khi chưa được giao khu vực biển chính thức, chứng nhận quyền sử dụng mặt nước chưa rõ ràng, người nuôi không thể thế chấp để vay vốn ngân hàng còn doanh nghiệp cũng e ngại khi rót vốn đầu tư dài hạn. Không gian biển chưa được định hình rõ ràng ranh giới thì không thể tổ chức lại sản xuất, không thể cấp mã số vùng nuôi và đương nhiên, sản phẩm không thể truy xuất nguồn gốc để bước ra thị trường quốc tế.

chi-hien-2_1787703707.jpg
Bà Phạm Thị Thu Hiền, Chi hội trưởng Chi hội Nuôi biển Vân Đồn trao đổi với phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường về giải pháp phát triển nuôi biển theo tinh thần Nghị quyết 20-NQ/TW

PV: Nghị quyết 20-NQ/TW đặt mục tiêu phát triển nuôi biển theo hướng hiện đại, xanh, thông minh, nâng giá trị sản xuất nuôi biển. Theo bà, người nuôi biển Vân Đồn cần thay đổi như thế nào về con giống, công nghệ lồng nuôi, quản lý môi trường, kiểm soát dịch bệnh và liên kết sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng, giảm tác động đến hệ sinh thái và thích ứng với biến đổi khí hậu?

Bà Phạm Thị Thu Hiền: Nghị quyết 20-NQ/TW ra đời là một kim chỉ nam, đòi hỏi một cuộc "cách mạng" thực sự trong tư duy của người nuôi biển. Để đạt được mục tiêu Xanh - Hiện đại - Bền vững, bà con ngư dân Vân Đồn buộc phải thay đổi toàn diện trên 4 phương diện:

Thứ nhất, về con giống và môi trường: Phải từ bỏ thói quen sử dụng nguồn giống trôi nổi. Cần chuyển sang sử dụng con giống được lai tạo bằng công nghệ sinh học, kháng bệnh tốt. Mật độ thả nuôi phải tuân thủ nghiêm ngặt sức tải của môi trường, kết hợp nuôi đa giá trị (ví dụ nuôi xen canh cá – hàu – rong biển) để các loài cộng sinh lọc nước, giảm thiểu rác thải sinh học.

Thứ hai, về công nghệ lồng nuôi: Bài học từ những trận siêu bão đã cho thấy lồng gỗ truyền thống không còn phù hợp. Bà con phải chuyển đổi triệt để sang lồng phao HDPE có khả năng chống chịu sóng gió bão lớn, kết hợp ứng dụng công nghệ thông minh (cảm biến đo môi trường nước, máy cho ăn tự động) để thích ứng với biến đổi khí hậu.

Thứ ba, về kiểm soát dịch bệnh: Phải chuyển từ "chữa bệnh" sang "phòng bệnh". Tuân thủ tuyệt đối an toàn sinh học, sử dụng chế phẩm sinh học thay cho kháng sinh, ghi chép nhật ký điện tử để truy xuất nguồn gốc rõ ràng.

Thứ tư, về liên kết sản xuất: Đây là yếu tố sống còn. Người nuôi không thể đơn độc "mạnh ai nấy làm" rồi đối mặt với điệp khúc "được mùa mất giá". Bà con phải tham gia vào các Tổ hợp tác, Hợp tác xã, tuân thủ quy chuẩn chung để tạo ra sản lượng lớn, chất lượng đồng đều, từ đó mới đủ sức ký kết hợp đồng bao tiêu với các nhà máy chế biến sâu.

chi-hien-tham-quan-be-ca_1787703784.jpg
Đoàn công tác Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường tham quan mô hình nuôi thủy sản ứng dụng công nghệ cao

PV: Để tinh thần Nghị quyết 20-NQ/TW thực sự đi vào cuộc sống và tạo động lực cho ngành nuôi biển Vân Đồn phát triển bền vững, theo bà cần những cơ chế, chính sách và giải pháp hỗ trợ nào từ chính quyền địa phương, ngành chức năng và các doanh nghiệp? Chi hội Nuôi biển Vân Đồn có thể đóng vai trò gì trong kết nối người nuôi với khoa học công nghệ, nguồn vốn, doanh nghiệp chế biến và thị trường, qua đó hình thành chuỗi giá trị nuôi biển có giá trị gia tăng cao?

Bà Phạm Thị Thu Hiền: Để Nghị quyết 20-NQ/TW thực sự tạo ra sức bật, chúng ta cần sự đồng bộ từ cả 3 "chân kiềng": Nhà nước – Doanh nghiệp – Hội nghề nghiệp.

Từ phía Nhà nước và chính quyền địa phương: Cần có định hướng chiến lược rõ ràng, dựa trên những nghiên cứu khoa học bài bản để lựa chọn được các đối tượng nuôi chủ lực phù hợp với lợi thế sinh thái của từng địa phương. Quan trọng hơn, Nhà nước cần đóng vai trò kiến tạo để lấp đầy toàn bộ chuỗi giá trị: Từ khâu sản xuất con giống, hạ tầng nuôi, công nghệ kiểm soát, nguồn thức ăn, quy trình công nghệ nuôi, cho đến hệ thống logistics, chế biến sâu và thương mại. Đi kèm với tư duy kiến tạo đó là những chính sách thu hút đầu tư đủ mạnh, tạo động lực tháo gỡ triệt để các khó khăn hiện hữu (như khẩn trương hoàn thiện phân vùng, cấp phép giao không gian biển, mở rộng tín dụng xanh và bảo hiểm rủi ro thiên tai). Những giải pháp vĩ mô này sẽ giúp chuỗi giá trị nuôi biển được hình thành đồng bộ, liên tục cải tiến và phát triển bền vững.

Từ phía Doanh nghiệp: Cần mạnh dạn đầu tư vào công nghiệp sản xuất giống, hệ thống hạ tầng nuôi biển, chế biến sâu, xây dựng chuỗi logistics lạnh đồng bộ từ biển lên bờ, cam kết bao tiêu sản phẩm với mức giá minh bạch, ổn định để làm điểm tựa vững chắc cho vùng nuôi.

Về phần mình, Chi hội Nuôi biển Vân Đồn tự hào đang làm tốt vai trò "Nhạc trưởng" kết nối chuỗi giá trị: Kết nối khoa học-công nghệ và nguồn vốn: Chúng tôi trực tiếp làm việc với các viện nghiên cứu, trường đại học để chuyển giao quy trình nuôi chuẩn ASC, GlobalGAP cho hội viên; đồng thời tư vấn, hỗ trợ pháp lý để các HTX hoàn thiện hồ sơ tiếp cận vốn vay.

Thông qua nền tảng của các doanh nghiệp dẫn dắt trong Chi hội, chúng tôi hình thành một hệ sinh thái khép kín: Cung cấp vật tư đầu vào đạt chuẩn – Giám sát kỹ thuật vùng nuôi – Thu mua tại bến – Chế biến sâu – Phân phối vào hệ thống siêu thị cao cấp và xuất khẩu.

Chỉ khi chúng ta lấp đầy được chuỗi giá trị và lợi ích được sẻ chia công bằng từ người nuôi đến nhà máy chế biến, chúng ta mới có thể hiện thực hóa khát vọng đưa Vân Đồn trở thành một trung tâm kinh tế biển mạnh, giàu từ biển như Nghị quyết 20-NQ/TW đã đề ra.

tang-an-pham_1787703959.png
Ông Phạm Xuân Tú, Bí thư Đoàn Thanh niên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường tặng các ấn phẩm của Tạp chí cho lãnh đạo Chi hội Nuôi biển Vân Đồn và Phó Chủ tịch Hội đồng doanh nghiệp Nông nghiệp Việt Nam, Phó Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Vinanutrifood Bình Định

PV: Xin trân trọng cảm ơn bà!

Sỹ Tùng - Xuân Tú