Viện Khoa học Thủy lợi (KHTL) Việt Nam là đơn vị điển hình trong việc gắn kết hoạt động nghiên cứu khoa học với thực tiễn phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Với tinh thần chủ động, sáng tạo, Viện đã tích cực hưởng ứng PTTĐ “Cả nước chung tay xây dựng NTM”, huy động mọi nguồn lực, khơi dậy tinh thần trách nhiệm và nhiệt huyết của đội ngũ cán bộ, viên chức, nhà khoa học.
Với đặc thù là một đơn vị nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực thủy lợi, Viện KHTL Việt Nam đã tích cực hưởng ứng bằng việc huy động mọi nguồn lực, vận động cán bộ, viên chức tích cực tham gia xây dựng phong trào NTM.
Năm 2021, Đảng ủy, lãnh đạo Viện KHTL Việt Nam xác định mục tiêu nhiệm vụ chính của Viện là bám sát mục tiêu của Bộ “Tái cơ cấu ngành phục vụ chương trình xây dựng NTM” và hưởng ứng PTTĐ do Bộ phát động “Toàn ngành NN&PTNT chung sức xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, nông dân giàu có, nông thôn văn minh”. Trên tinh thần đó, Viện đã phát động PTTĐ giai đoạn 2020- 2025 với chủ đề “Thi đua nghiên cứu khoa học, lao động sáng tạo; chất lượng, hiệu quả sản phẩm và ứng dụng chuyển giao” và PTTĐ “Phát huy truyền thống đơn vị anh hùng, tập trung mọi nguồn lực cùng cả nước chung sức xây dựng NTM”, tập trung mọi nguồn lực cùng cả nước chung sức xây dựng NTM, gắn liền với việc “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.”
Với lợi thế làm chủ nhiều sản phẩm khoa học công nghệ, trong những năm qua Viện KHTL Việt Nam đã thực hiện hàng chục đề tài, dự án phục vụ chương trình xây dựng NTM. Nhiều kết quả nghiên cứu của Viện đã được chuyển giao và đưa vào sản xuất thông qua các hợp đồng tư vấn xây dựng, lắp đặt thiết bị, hỗ trợ kỹ thuật cho các địa phương.
Viện KHTL Việt Nam được xếp hạng đặc biệt nhờ sở hữu nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật và bằng độc quyền sáng chế mang giá trị thực tiễn cao. Chỉ tính riêng trong 5 năm gần đây, Viện đã đạt được nhiều kết quả nổi bật, khẳng định năng lực nghiên cứu và đổi mới sáng tạo hàng đầu của mình. Cụ thể, Viện đã có 52 tiến bộ kỹ thuật, giải pháp hữu ích và bằng độc quyền sáng chế được công nhận; 68 bộ tiêu chí giám sát, đánh giá chính sách, chương trình, đề án hoặc các chính sách, chương trình được công nhận; 87 sản phẩm chuyển giao vào sản xuất, mô hình áp dụng tiến bộ kỹ thuật đã triển khai; 91 sáng kiến được công nhận phạm vi ảnh hưởng cấp Bộ và 6 sáng kiến phạm vi ảnh hưởng cấp toàn quốc.
Nhiều tiến bộ kỹ thuật và bằng độc quyền sáng chế của Viện đã được công nhận và ứng dụng rộng rãi, tiêu biểu như: Công nghệ Đập Trụ đỡ và đập Xà lan di động (giảm chi phí đầu tư xây dựng (giảm 30% - 40% so với cống ngăn triều truyền thống), được cấp bằng độc quyền sáng chế, đạt Giải thưởng Hồ Chí Minh (2012); nghiên cứu điều chỉnh vị trí tuyến âu thuyền từ giữa sông về gần bờ, đã giảm thiểu được khoảng 40% giá thành hạng mục biện pháp thi công; nghiên cứu điều chỉnh quy mô và vị trí âu thuyền từ 2 âu về 1 âu đối với hạng mục Âu thuyền, giảm thiểu được khoảng 50% giá thành xây lắp hạng mục này; nghiên cứu thay đổi phương án bố trí kết cấu công trình và kết cấu cửa van chữ nhân một lớp làm việc hai chiều cống Xẻo Rô, giúp giảm chi phí đền bù, tiết kiệm hàng trăm tỷ đồng đồng thời rút ngắn thời gian thi công khoảng 8 tháng so với kế hoạch, công trình này đã đạt giải Nhất giải thưởng “Nhân tài Đất Việt” năm 2023,…
Ngoài ra, Viện đã thực hiện nhiều đề tài liên quan đến nông nghiệp như: Tư vấn thu thập, cập nhật số liệu về quản lý rủi ro thiên tại dựa vào cộng đồng và thực hiện Khung Sendai tại Việt Nam; đề xuất mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của tổ chức khai thác công trình thủy lợi cấp tỉnh phù hợp cho các vùng miền; dự báo, cảnh báo diễn biến hạn hán, xâm nhập mặn phục vụ điều chỉnh thời vụ và chuyển đổi cơ cấu sản xuất cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long; đề xuất cơ chế chính sách và mô hình tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tôm-lúa vùng ven biển Tây Đồng bằng sông Cửu Long; thí điểm xây dựng hạ tầng kỹ thuật phục vụ tưới tiêu cho cánh đồng mẫu sản xuất nông nghiệp theo hướng tăng trưởng xanh; xây dựng mô hình quản lý hệ thống tưới tiết kiệm nước cho vùng sản xuất chè an toàn ở tỉnh Tuyên Quang và rất nhiều công trình khác,...
Trong 5 năm gần đây, Viện KHTL Việt Nam đã đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu hướng đến phục vụ chương trình xây dựng NTM như: Hoàn thiện cơ chế chính sách, xã hội hóa quản lý hiệu quả công trình thủy lợi, giải pháp xây dựng NTM; thúc đẩy tái cơ cấu ngành, tăng trưởng nông nghiệp; thực hiện các tiêu chí NTM và đào tạo nâng cao năng lực, trình độ cho các đối tượng tham gia xây dựng NTM. Cụ thể như Chương trình hỗ trợ xã hội và nội đồng cho khu tưới Đức Hòa tỉnh Long An, thuộc Dự án Thủy lợi Phước Hòa do Bộ NN&PTNT làm chủ đầu tư (là một dự án lớn, kinh phí trên 6.000 tỷ đồng).
Chương trình được triển khai như một mô hình tổng hợp về giải phóng mặt bằng, tái định cư và hỗ trợ xã hội cho các hộ bị ảnh hưởng bởi xây dựng hệ thống kênh với trên 6.000 hộ trong 2 năm; đào tạo tăng cường năng lực, xây dựng chiến lược phát triển nông nghiệp; xây dựng mạng lưới thông tin, kết nối thị trường; xây dựng 16 mô hình nông nghiệp thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu cây trồng có giá trị kinh tế cao và tổ chức nhân rộng,...
Những kết quả nghiên cứu về KH&CN của Viện KHTL Việt Nam không chỉ góp phần mang đến diện mạo mới cho hàng nghìn làng quê, đô thị, mà còn tạo nên nền tảng vững chắc để Việt Nam vững bước trên con đường phát triển xanh, hiện đại và bền vững trong tương lai. Với những thành tích, đóng góp đó, nhiều năm liền Viện KHTL Việt Nam đã được Bộ ghi nhận, tặng bằng khen, giấy khen.
Phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng NTM” đã khẳng định vị trí là một trong những phong trào có tác động sâu rộng, bền vững nhất. Viện KHTL Việt Nam đã hòa mình vào dòng chảy của đất nước. Các nhà khoa học không chỉ miệt mài nghiên cứu trong phòng thí nghiệm mà còn vượt nắng, thắng mưa để có những kết quả nghiên cứu phục vụ công tác phòng chống thiên tai, BVMT, đạt hiệu quả tối ưu, tiết kiệm ngân sách nhà nước và góp phần quan trọng trong nâng cao đời sống nhân dân, phát triển nông nghiệp bền vững.