news
An ninh năng lượng và bài toán nước mùa cạn: Không để thiếu điện rồi lại thiếu nước

An ninh năng lượng và bài toán nước mùa cạn: Không để thiếu điện rồi lại thiếu nước

Thứ năm, 7/5/2026, 07:30 (GMT+7)
logo Trong quản trị quốc gia hiện đại, an ninh năng lượng và an ninh nguồn nước không còn là hai câu chuyện riêng biệt. Khi hệ thống điện quốc gia phụ thuộc lớn vào thủy điện, mỗi quyết định vận hành hồ chứa không chỉ liên quan đến phát điện, mà còn tác động trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, cấp nước sinh hoạt, phòng chống hạn hán, xâm nhập mặn và cả an toàn hạ du.

Bởi vậy, trong bối cảnh mùa cạn năm 2026 diễn ra đồng thời với nguy cơ thiếu hụt nguồn nhiên liệu nhập khẩu do bất ổn địa chính trị toàn cầu, đặc biệt là xung đột tại Trung Đông, việc Bộ Nông nghiệp và Môi trường báo cáo Thủ tướng Chính phủ về hiện trạng nguồn nước trên các lưu vực sông và đề xuất phương án vận hành linh hoạt các hồ chứa thủy điện không chỉ là một giải pháp kỹ thuật, mà là một quyết sách điều hành chiến lược ở tầm quốc gia.

vu-gia-thu-bon_1777866992.jpg
Vận hành linh hoạt các hồ chứa thủy điện không chỉ là một giải pháp kỹ thuật, mà là một quyết sách điều hành chiến lược ở tầm quốc gia. Ảnh minh họa.

Khi xung đột địa chính trị tác động tới từng dòng chảy

Theo báo cáo của Bộ, bất ổn tại khu vực Trung Đông đang làm gia tăng nguy cơ gián đoạn nguồn cung khí LNG, dầu và đẩy chi phí nhiên liệu tăng cao, tác động trực tiếp đến an ninh, an toàn hệ thống điện quốc gia.

Báo cáo của Công ty vận hành Hệ thống điện và Thị trường điện Quốc gia (NSMO) cho thấy, cùng với rủi ro LNG, nguồn than nhập khẩu phục vụ cho các nhà máy nhiệt điện lớn như Vĩnh Tân 4, Duyên Hải 3 với tổng công suất gần 4.000 MW cũng đứng trước nguy cơ thiếu hụt trong các tháng tới.

Trong kịch bản xấu, nếu nguồn than nhập khẩu cùng các nguồn khí LNG, dầu DO, FO không bảo đảm khả dụng theo kế hoạch, sản lượng điện thiếu hụt có thể dao động từ 747 triệu kWh đến 6.243 triệu kWh.

Phần thiếu hụt này buộc phải được bù đắp bằng lượng nước tích giữ trong các hồ thủy điện, tương ứng với nhu cầu sử dụng thêm từ 2,05 tỷ m³ đến 16,5 tỷ m³ nước - tương đương tới 45% dung tích hữu ích của các hồ thủy điện lớn.

Đây là con số rất lớn. Nếu vận hành không khéo, hệ thống có thể rơi vào một nghịch lý nguy hiểm: dùng quá nhiều nước để chống thiếu điện đầu mùa khô, nhưng đến cao điểm nắng nóng lại thiếu cả điện lẫn nước.

Nguồn nước hiện vẫn ở trạng thái bình thường

Điểm tích cực là, theo theo dõi của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tính đến ngày 10/4/2026, nguồn nước trên các lưu vực sông lớn vẫn đang ở trạng thái tương đối thuận lợi.

Dòng chảy trên đa số các sông chính thuộc 11 lưu vực sông lớn quan trọng như sông Hồng, Mã, Cả, Hương, Vu Gia – Thu Bồn, Trà Khúc, Kôn, Ba, Sê San, Srêpốk, Đồng Nai đang ở mức xấp xỉ hoặc cao hơn trung bình nhiều năm từ 10% đến 120%; chỉ một số tiểu lưu vực có thiếu hụt cục bộ từ 11% đến 40%.

Tổng dung tích các hồ chứa trong 11 quy trình vận hành liên hồ hiện đạt khoảng 41,76 tỷ m³, trong đó dung tích có thể điều tiết khoảng 25,37 tỷ m³; riêng các hồ thủy điện và hồ thủy lợi kết hợp thủy điện có khả năng điều tiết khoảng 24,04 tỷ m³.

Đa số hồ lớn có dung tích tương đương hoặc cao hơn cùng kỳ năm 2025 từ 6% đến 47%.

Với 256 hồ thủy lợi lớn, tổng dung tích trữ hiện tại khoảng 3,99 tỷ m³, đa số đạt từ 50% đến 100% dung tích thiết kế.

Nói cách khác, nguồn nước hiện nay chưa phải vấn đề cấp bách.Vấn đề lớn hơn nằm ở bài toán điều tiết chiến lược: giữ nước hôm nay để không thiếu nước ngày mai.

El Nino có thể quay trở lại từ tháng 6

Theo nhận định khí tượng thủy văn, từ tháng 4/2026 Việt Nam chuyển sang pha trung tính ngắn hạn đến khoảng tháng 6, sau đó có khả năng chuyển sang pha El Nino với cường độ trung bình đến cao, kéo dài đến hết năm 2026 và có thể sang đầu năm 2027.

Điều này đồng nghĩa với việc nắng nóng sẽ gia tăng mạnh trong các tháng cuối mùa cạn; nhu cầu điện tăng vọt trong khi lưu lượng nước về hồ có xu hướng giảm ở nhiều lưu vực.

Nếu không chủ động tích nước từ giai đoạn thấp điểm, áp lực sẽ dồn vào các tháng 7–8, đặc biệt tại khu vực miền Trung - nơi vụ Hè Thu phụ thuộc lớn vào nước từ các hồ thủy điện thượng nguồn.

Đây là thời điểm quyết định. Sai một nhịp điều hành có thể dẫn đến thiếu điện diện rộng hoặc khủng hoảng cấp nước cục bộ.

Đề xuất vận hành linh hoạt: giảm phát điện lúc thấp điểm để giữ nước cho cao điểm

Trên cơ sở đó, NSMO đề xuất điều chỉnh các quy định vận hành hồ chứa thủy điện trong mùa khô 2026, áp dụng từ tháng 4 đến 31/8/2026 tùy từng lưu vực.

Cụ thể, cho phép ngừng hoặc giảm huy động các nhà máy thủy điện trong các chu kỳ thấp điểm đêm (22h-6h sáng hôm sau) và thấp điểm trưa (10h-13h); đồng thời giảm yêu cầu nước hạ du trong các ngày nghỉ lễ, thứ Bảy và Chủ nhật xuống còn 50% so với quy định hiện hành trong Quy trình vận hành liên hồ chứa. Nói đơn giản hơn: giữ nước khi nhu cầu điện thấp để dành cho giai đoạn cao điểm nắng nóng.

Đây là cách tiếp cận hợp lý hơn nhiều so với việc phát điện tối đa ngay từ đầu mùa khô rồi sau đó phải đối mặt với cả thiếu điện lẫn thiếu nước. Bộ Công Thương cũng đã thống nhất với đề xuất này tại Văn bản số 2601/BCT-ĐL ngày 14/4/2026.

Không phải lưu vực nào cũng điều hành giống nhau

Điểm quan trọng trong báo cáo là không áp dụng một công thức chung cho tất cả. Mỗi lưu vực sông có đặc điểm rất khác nhau.

Nhóm lưu vực sông Hồng, Kôn, Sê San, Đồng Nai có dung tích trữ cao (65–90%), khả năng đáp ứng tốt nên có thể xem xét tăng tích nước trong giai đoạn thấp điểm.

Riêng sông Hồng đã qua giai đoạn sử dụng nước cao điểm vụ Đông Xuân nên áp lực thấp hơn, nhưng phải đặc biệt lưu ý yêu cầu phòng chống lũ khi mùa lũ bắt đầu từ ngày 15/6.

Nhóm lưu vực Vu Gia - Thu Bồn và Srêpốk có hệ thống khai thác nước hạ du linh hoạt, dễ thích nghi hơn với chế độ tiết kiệm nước.

Trong khi đó, nhóm sông Mã, Cả, Hương, Trà Khúc, Ba lại phụ thuộc lớn vào chế độ vận hành hồ thượng lưu nên cần điều hành thận trọng hơn, nhất là giai đoạn chuyển tiếp mùa vụ từ giữa tháng 4 đến giữa tháng 5.

Tư duy điều hành ở đây không phải “một lệnh cho tất cả”, mà là quản trị theo lưu vực - đúng với bản chất của tài nguyên nước hiện đại.

171517dich-vu-thuy-loi-17315787807931322334475_1777867490.jpg
Theo dõi của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tính đến ngày 10/4/2026, cho thấy nguồn nước trên các lưu vực sông lớn vẫn đang ở trạng thái tương đối thuận lợi. Ảnh minh họa

Điều quan trọng nhất: không để xả thừa rồi lại thiếu nước

Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh rất rõ: việc điều chỉnh linh hoạt hồ chứa là cần thiết, nhưng phải bảo đảm ba nguyên tắc không được phá vỡ.

Thứ nhất, không ảnh hưởng đến nhiệm vụ phòng, chống, cắt, giảm lũ cho hạ du, đặc biệt là lưu vực sông Hồng.

Thứ hai, phải bảo đảm sử dụng nước tiết kiệm, tránh xả thừa gây lãng phí nguồn nước.

Thứ ba, phải duy trì khả năng cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất và vụ Hè Thu ở hạ du.

Đây là điểm cốt lõi. An ninh năng lượng không thể được bảo đảm bằng cách hy sinh an ninh nguồn nước. Một quyết định điều hành đúng là quyết định cân bằng được cả hai.

Điều hành hồ chứa không còn là câu chuyện của riêng ngành điện

Thực chất, bài toán vận hành hồ chứa mùa cạn 2026 cho thấy một điều rất rõ: quản trị nước đã trở thành vấn đề liên ngành và liên vùng, liên quan tới điện lực, nông nghiệp, cấp nước đô thị, phòng chống thiên tai, logistics, tăng trưởng kinh tế và cả ổn định xã hội.

Đó cũng là lý do Bộ Nông nghiệp và Môi trường kiến nghị Thủ tướng cho phép điều chỉnh linh hoạt các hồ chứa từ nay đến hết ngày 15/5/2026; đồng thời giao các bộ, ngành và địa phương cùng phối hợp trong giám sát, điều tiết, tiết kiệm nước và chuẩn bị các phương án cấp nước dự phòng.

Bởi trong quản trị quốc gia hiện đại, điều hành một hồ chứa không còn là quyết định kỹ thuật đơn lẻ. Đó là quyết định về tăng trưởng, về an ninh quốc gia và về năng lực thích ứng của cả nền kinh tế trước những biến động toàn cầu ngày càng khó lường.

 

TTTT