Bà Tô Thị Nhã Trầm: Làm chủ công nghệ giống chuối kháng TR4, tạo đà nâng tầm ngành hàng chuối Việt Nam

Bà Tô Thị Nhã Trầm: Làm chủ công nghệ giống chuối kháng TR4, tạo đà nâng tầm ngành hàng chuối Việt Nam

Thứ bảy, 18/7/2026, 06:27 (GMT+7)
logo Thời gian gần đây, bệnh héo rũ Panama do nấm Fusarium TR4 tiếp tục lan rộng, đe dọa ngành chuối toàn cầu, việc làm chủ công nghệ chọn tạo giống kháng bệnh đang trở thành "chìa khóa" quyết định năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia. Tại Việt Nam, bên cạnh những thành tựu của các viện nghiên cứu, nhiều doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư vào công nghệ sinh học, nuôi cấy mô và phát triển các giống chuối mới có khả năng chống chịu cao, đáp ứng yêu cầu khắt khe của thị trường xuất khẩu. Để hiểu rõ hơn, phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với bà Tô Thị Nhã Trầm, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Công nghệ Sinh học cây giống Việt Nam (Vietplants).
z7992111377049_f446408eec980658913646d4ce1d39da_1783911566.jpg
Bà Tô Thị Nhã Trầm, TGĐ công ty Cổ phần Công nghệ Sinh học Cây Giống Việt Nam (Vietplants)

PV: Xin bà cho biết, công tác nghiên cứu và tuyển chọn các giống chuối kháng bệnh TR4 ở Việt Nam đã đạt được những kết quả nổi bật nào, đặc biệt là vai trò của doanh nghiệp?

Bà Tô Thị Nhã Trầm: Bệnh héo rũ Panama do nấm Fusarium TR4 hiện được xem là mối đe dọa lớn nhất đối với ngành chuối toàn cầu. Loại nấm này có thể làm mất 70–100% năng suất và tồn tại trong đất trên 30 năm, khiến nhiều vùng trồng không thể tiếp tục canh tác chuối. Mức độ nghiêm trọng của dịch bệnh đã khiến Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) triển khai dự án hỗ trợ chuyên sâu tại Việt Nam giai đoạn 2025 2026 với ngân sách hơn 120.000 USD, trong đó tập trung vào giám sát dịch bệnh, chẩn đoán sớm, tuyển chọn giống chống chịu, phát triển vi sinh vật đối kháng và xây dựng quy trình sản xuất cây giống sạch bệnh.

Cụ thể, hướng thứ nhất là chọn tạo giống chống chịu bệnh thông qua “chọn lọc tự nhiên”. Trong quá trình nuôi trồng, cây chuối đôi khi xuất hiện những biến đổi di truyền hoặc biểu hiện sinh học tự nhiên, gọi là biến dị soma. Đây được xem là “nguồn nguyên liệu” để tuyển chọn những cây có đặc tính vượt trội như kháng TR4, chịu hạn hoặc năng suất cao, trở thành những mẫu chuẩn để sản sinh những đời con ưu việt hơn. Một trong những thành công tiêu biểu là giống Formosana (GCTCV-218) của Viện Nghiên cứu chuối Đài Loan (Trung Quốc), được công nhận từ năm 2002. Giống này được phát triển thông qua công nghệ chọn lọc biến dị soma trên nền chuối Cavendish. Trong các khảo nghiệm bán thương mại tại Đài Loan, tỷ lệ nhiễm TR4 chỉ khoảng 4 5%, thấp hơn nhiều so với mức 25 30% của giống Cavendish địa phương 'Pei Chiao'. Thành công của giống Formosana đã giúp phục hồi hàng nghìn hecta chuối tại Philippines và nhiều quốc gia châu Á, khẳng định giá trị của phương pháp khai thác biến dị tự nhiên trong nuôi cấy mô.

z7991574734262_26fff297f984a178e9cb68820545283a_1783911614.jpg
Công nghệ nuôi cấy mô đã tạo ra những giống chuối sạch bệnh giúp người dân yên tâm sản xuất

Tại Việt Nam, năm 2020, Viện Nghiên cứu Rau quả (Học Viện Nông nghiệp Việt Nam) đã tạo ra giống GL3-5 bằng cách kết hợp nuôi cấy mô, tạo biến dị soma và lây nhiễm nhân tạo với TR4 để sàng lọc các dòng chống chịu. Kết quả cho thấy, tỷ lệ nhiễm bệnh chỉ khoảng 15%, trong khi các giống đối chứng có thể vượt 40 60%. Đây là dấu mốc quan trọng, chứng minh Việt Nam có thể chủ động chọn tạo giống kháng bệnh bằng các phương pháp khoa học hiện đại.

Từ năm 2018, Unifarm và Vietplants đã thử nghiệm nhiều loại cây giống mới, tương thích với khí hậu và thổ nhưỡng của Việt Nam, và đến năm 2023, giống chuối kháng bệnh UNI 126 cũng đã hoàn thành quy chuẩn nhân giống công nghiệp để công bố thương mại, đây là một bước tiến mới trong quá trình tuyển chọn. Mấu chốt không chỉ nằm ở khả năng chống chịu TR4 đạt 95 98%, mà còn ở cách tiếp cận từ công nghệ tế bào và quy trình chọn lọc thực địa quy mô lớn. Đặc biệt, với cách nuôi trồng đảm bảo đồng đều tỷ lệ nám sinh lý trên trái chỉ còn khoảng 2%, thành phẩm đáp ứng tốt các tiêu chuẩn xuất khẩu, không chỉ giúp giảm thiểu rủi ro cho người trồng mà còn góp phần nâng cao chất lượng, giá trị và năng lực cạnh tranh của chuối Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Thứ hai là ứng dụng công nghệ sinh học hiện đại như chỉnh sửa gen hoặc chuyển gen kháng bệnh từ chuối hoang dại sang chuối thương mại. Điển hình là giống QCAV-4 do Đại học Công nghệ Queensland (Úc) phát triển, được xem là giống chuối biến đổi gen kháng TR4 đầu tiên trên thế giới được công bố năm 2023.

Thứ ba là quản lý hệ vi sinh vật có lợi. Các nghiên cứu tại Philippines đang tách và nuôi các loại nấm nội sinh từ những cây chuối rừng không nhiễm bệnh. Có thể hình dung chúng giống như các lợi khuẩn trong đường ruột của con người. Khi được đưa trở lại cây chuối, hệ vi sinh vật này có thể giúp kích hoạt cơ chế phòng vệ tự nhiên và tăng khả năng chống chịu với TR4.

Với mục tiêu là đưa ngành chuối nước ta phát triển, đồng thời chọn tạo những giống chuối kháng bệnh, thời gian qua Công ty Unifarm, Vietplants là những doanh nghiệp tiên phong trong lĩnh vực nuôi cấy mô, về quy mô và cả về công nghệ, kỹ thuật nuôi trồng. Đặc biệt, Công ty đã nghiên cứu, chọn tạo, định danh giống UNI 126 đã được kiểm chứng không chỉ trên đồng ruộng mà còn thông qua thị trường. Sau thời gian khảo nghiêm, kiểm nghiệm, giống UNI 126 đã kháng được bệnh TR4 và được người dân rất tin dùng. Các sản phẩm chuối của Vietplants và Unifarm đã được xuất khẩu đến nhiều thị trường có yêu cầu khắt khe như Nhật Bản, châu Âu,... những thị trường không chỉ đánh giá về mẫu mã, kích thước trái hay độ đồng đều, mà còn đặc biệt quan tâm đến tính ổn định của nguồn cung, truy xuất nguồn gốc, an toàn sinh học và tính bền vững trong sản xuất. Việc các lô chuối được chấp nhận tại những thị trường này cho thấy chất lượng của giống, quy trình sản xuất và năng lực quản lý vùng trồng của doanh nghiệp Việt Nam đã tiệm cận các tiêu chuẩn quốc tế. Quan trọng hơn, mỗi container chuối xuất khẩu không chỉ mang theo giá trị kinh tế mà còn góp phần khẳng định vị thế của nông nghiệp công nghệ cao Việt Nam trên bản đồ nông sản thế giới.

PV: Qua quá trình đánh giá các giống chuối nội địa và nhập nội, những giống nào cho thấy khả năng kháng hoặc chống chịu bệnh TR4 tốt nhất, thưa bà?

Bà Tô Thị Nhã Trầm: Khi nói đến giống chuối chống chịu TR4, chúng ta cũng cần nhìn nhận rằng, không có một giống chuối nào phù hợp cho tất cả thị trường. Mỗi quốc gia, mỗi vùng văn hóa và mỗi phân khúc người tiêu dùng lại có những khẩu vị khác nhau. Người Việt Nam quen thuộc với chuối sứ, chuối cau, chuối xiêm hay chuối già, trong khi nhiều thị trường quốc tế lại ưu tiên các giống thuộc nhóm Cavendish nhờ vị ngọt dịu, kết cấu bùi mịn, trái dài đẹp, đồng đều và thuận lợi cho vận chuyển xa.

Việt Nam là một trong những quốc gia có nguồn tài nguyên chuối rất phong phú trong khu vực, với nhiều nhóm giống bản địa và nhập nội đang được bảo tồn, khai thác và nghiên cứu. Chính sự đa dạng sinh học này là nguồn vật liệu quý để các nhà khoa học tiếp tục tìm kiếm các đặc tính chống chịu dịch bệnh và thích nghi với biến đổi khí hậu trong tương lai.

z7988022081805_49386470f453ec3487bf45516df5770f_1783911625.jpg
Giống UNI 126 do Unifarm phát triển sau thời gian trồng đã khẳng định được tính kháng TR4, đồng thời cho năng suất cao, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu

Tuy nhiên, xét trên góc độ thương mại toàn cầu, phần lớn các chương trình nghiên cứu kháng TR4 hiện nay vẫn tập trung vào nhóm Cavendish vì đây là giống đang chiếm phần lớn thị trường xuất khẩu thế giới. Những thành tựu tiêu biểu có thể kể đến như Formosana (GCTCV-218) của Đài Loan (Trung Quốc) được đưa vào sản xuất từ đầu những năm 2000, giống GL3-5 của Viện Nghiên cứu Rau quả (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) được công nhận sản xuất thử năm 2020, hay giống UNI 126 do Unifarm phát triển từ năm 2018 và hoàn thiện quy trình nhân giống vào năm 2023.

Qua nhiều năm khảo nghiệm thực tế, các giống này đều cho thấy khả năng chống chịu TR4 tốt hơn đáng kể so với các giống Cavendish truyền thống. Riêng giống UNI 126 hiện ghi nhận tỷ lệ sống khoảng 95% tại các vùng có áp lực bệnh cao, đồng thời duy trì tỷ lệ nám sinh lý trên trái ở mức rất thấp, đáp ứng yêu cầu của các thị trường xuất khẩu khó tính như Nhật Bản và châu Âu...

Theo tôi, điều quan trọng nhất không phải là tìm ra một giống chuối "tốt nhất", mà là phát triển được những giống phù hợp với từng thị trường, từng vùng sinh thái và đủ khả năng chống chịu trước những thách thức của tương lai. Đó mới là nền tảng cho sự phát triển bền vững của ngành chuối Việt Nam.

PV: Mới đây, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, theo bà chúng ta cần những cơ chế, chính sách gì để khuyến khích doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất giống đầu tư vào lĩnh vực này?

Bà Tô Thị Nhã Trầm: Trước hết, tôi đánh giá rất cao Nghị quyết 68-NQ/TW vì đã nhận diện đúng và trúng nhiều khó khăn mà doanh nghiệp tư nhân đang gặp phải. Đó không chỉ là bài toán về vốn mà còn là khả năng tiếp cận công nghệ, chuyển đổi số, nguồn nhân lực chất lượng cao và môi trường đổi mới sáng tạo. Đối với các doanh nghiệp khoa học công nghệ như Vietplants, ngay cả khi có sự đồng hành của những tập đoàn lớn như U&I, hành trình phát triển vẫn không hề dễ dàng.

Là người xuất thân từ môi trường nghiên cứu và giảng dạy trước khi tham gia điều hành doanh nghiệp, nên tôi hiểu rất rõ rằng, từ một kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đến một sản phẩm được thị trường chấp nhận là cả một chặng đường dài. Đặc biệt trong lĩnh vực cây giống, đây là ngành đầu tư dài hạn, đòi hỏi nguồn vốn lớn, thời gian thu hồi chậm và mức độ rủi ro cao. Vì vậy, việc cải thiện khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp và doanh nghiệp khoa học công nghệ là hết sức cần thiết.

z7988022064191_bcd49fee57db224a37b5e850182f3b90_1783911605.jpg
Nghị quyết 68 đã khẳng định tính hiệu quả, đặc biệt tạo điều kiện cho doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư công nghệ, liên kết theo chuỗi thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước, hướng tới tăng trưởng 2 con số

Bên cạnh vốn, yếu tố quyết định thành công là con người. Chúng ta cần những nhân sự vừa có kiến thức công nghệ sinh học, làm chủ kỹ thuật nuôi cấy mô, vừa có tư duy quản trị, khả năng đổi mới sáng tạo và truyền cảm hứng cho đội ngũ của mình. Đây cũng là lý do tôi đặc biệt ủng hộ mô hình liên kết “ba nhà” gồm Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp để đào tạo lực lượng lao động mới, giúp các bạn trẻ nhanh chóng hòa nhập và tạo giá trị cho nền kinh tế. Với lợi thế dân số trẻ, đây là cơ hội rất lớn để Việt Nam bứt phá trong kỷ nguyên phát triển mới.

Một điểm tôi rất kỳ vọng là việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế hỗ trợ nghiên cứu và thương mại hóa kết quả khoa học, trong nước và đặc biệt là quốc tế. Trong lĩnh vực giống cây trồng, thời gian công nhận, bảo hộ và đưa giống mới ra thị trường đôi khi kéo dài nhiều năm. Nếu rút ngắn được quy trình này, những sáng tạo do người Việt Nam tạo ra sẽ đến với người nông dân nhanh hơn, mở rộng thị trường xuất khẩu sớm hơn và nâng cao năng lực cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam trên trường quốc tế.

Tinh thần của Nghị quyết 68 khi xác định doanh nhân là những “chiến sĩ trên mặt trận kinh tế”, đồng thời đặt mục tiêu cắt giảm tối thiểu 30% thời gian xử lý thủ tục hành chính, 30% chi phí tuân thủ pháp luật và 30% chi phí kinh doanh. Đặc biệt, cơ chế cho phép chi phí nghiên cứu phát triển sản phẩm được khấu trừ 200% vào chi phí vận hành doanh nghiệp là một động lực to lớn để các doanh nghiệp đẩy mạnh lĩnh vực này.

Tôi tin rằng khi doanh nghiệp được trao cơ hội tiếp cận nguồn lực, được khuyến khích đổi mới sáng tạo và được đồng hành bởi một hệ sinh thái chính sách thuận lợi, chúng ta sẽ không chỉ tạo ra những doanh nghiệp thành công mà còn tạo ra những công nghệ, những thương hiệu và những giá trị mang dấu ấn Việt Nam trên thị trường toàn cầu.

PV: Bà kỳ vọng như thế nào về vai trò của các giống chuối kháng bệnh trong mục tiêu nâng cao giá trị xuất khẩu chuối của Việt Nam trong những năm tới?

Bà Tô Thị Nhã Trầm: Tôi tin rằng, các giống chuối kháng bệnh sẽ đóng vai trò quyết định đối với tương lai ngành chuối Việt Nam trong 10 20 năm tới. Trong bối cảnh bệnh TR4 tiếp tục lan rộng trên toàn cầu, lợi thế cạnh tranh không còn nằm ở việc ai có nhiều đất hơn, mà nằm ở việc ai có thể duy trì được nguồn cung ổn định, chất lượng cao và an toàn dịch bệnh trong dài hạn.

Hiện, Việt Nam có hơn 163.000 ha chuối với sản lượng khoảng 2,7 3 triệu tấn mỗi năm và đã vươn lên nhóm các quốc gia sản xuất chuối lớn trên thế giới. Năm 2024, kim ngạch xuất khẩu chuối đạt gần 380 triệu USD và tiếp tục duy trì đà tăng trưởng mạnh trong năm 2025. Tuy nhiên, nếu so với quy mô thị trường chuối toàn cầu trị giá hàng chục tỷ USD mỗi năm, dư địa phát triển của Việt Nam vẫn còn rất lớn. Đặc biệt, tại các thị trường có giá trị cao như Nhật Bản, Hàn Quốc và châu Âu… thị phần chuối Việt Nam vẫn còn khiêm tốn, trong khi nhu cầu đối với các sản phẩm có truy xuất nguồn gốc, chất lượng đồng đều và sản xuất bền vững ngày càng gia tăng.

z7991574753479_15b9c66c9510b77f2e41062cd7705e00_1783911599.jpg
Theo bà Trầm, khi chúng ta làm chủ công nghệ sản xuất giống, đặc biệt là những giống chuối sạch bệnh, ngành hàng chuối hoàn toàn có thể hướng tới giá trị xuất khẩu khoảng 1 tỷ USD vào năm 2030

Tôi cho rằng, mục tiêu của ngành chuối Việt Nam trong giai đoạn tới không chỉ là tăng diện tích hay sản lượng, mà là nâng cao giá trị trên mỗi hecta canh tác. Muốn làm được điều đó, chúng ta phải làm chủ công nghệ giống. Mỗi giống chuối kháng bệnh thành công sẽ giúp giảm rủi ro sản xuất, kéo dài tuổi thọ vùng trồng, giảm chi phí phòng trừ dịch bệnh và nâng cao tính ổn định của chuỗi cung ứng. Đó là những yếu tố cốt lõi để chinh phục các thị trường xuất khẩu khó tính.

Tại Vietplants và Unifarm, các giống chống chịu vượt trội như UNI 126 sẽ là một trong những chìa khóa quan trọng để ngành chuối Việt Nam hướng tới mục tiêu xuất khẩu 1 tỷ USD và phát triển bền vững đến năm 2030. Trong tương lai không xa, Việt Nam sẽ không chỉ được biết đến là quốc gia xuất khẩu chuối, mà còn là quốc gia xuất khẩu công nghệ giống, vật liệu nhân giống và các giải pháp canh tác tiên tiến cho ngành chuối. Những thành tựu như giống GL3-5 hay UNI 126 cho thấy, chúng ta hoàn toàn có đủ năng lực khoa học và năng lực doanh nghiệp để hiện thực hóa mục tiêu đó. Nhằm bảo vệ hiệu quả đầu tư của người sản xuất đồng thời góp phần xây dựng thương hiệu, uy tín và sự phát triển bền vững cho toàn ngành chuối Việt Nam

Lê Hải - Sỹ Tùng