Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về canh nông, Nghệ An định hình phát triển nông nghiệp dựa trên lợi thế từng vùng, hướng tới đa mục tiêu vừa tăng năng suất vừa tiến tới xây dựng các vùng sản xuất tập trung, chuyên canh hàng hóa.
Trong suốt hành trình phát triển của đất nước, nông nghiệp luôn giữ vai trò là nền tảng, là trụ đỡ quan trọng của nền kinh tế và đời sống xã hội. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt tới nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Không chỉ đặt nền móng cho một nền sản xuất lấy người dân làm trung tâm, những tư tưởng của Người còn hàm chứa triết lý sâu sắc về bảo vệ tài nguyên, gìn giữ môi trường sống.
Kế thừa và phát huy những tư tưởng đó, ngày nay Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm hướng tới một nền nông nghiệp hiện đại, đa giá trị, phát triển bền vững và thích ứng với yêu cầu của thời đại mới. Từ thực tiễn phát triển nông nghiệp ở Nghệ An hôm nay, có thể thấy rõ sự tiếp nối trong mạch tư tưởng của Bác đối với nền nông nghiệp Việt Nam.
Xem “canh nông là gốc”
Trong Thư gửi điền chủ nông gia Việt Nam ngày 11/4/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết: “Nông dân ta giàu thì nước ta giàu, nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh”. Cũng trong bức thư ấy, Người khẳng định một tư tưởng xuyên suốt: “Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp. Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc”. Đó không chỉ là lời căn dặn đối với một ngành sản xuất, mà còn là cách nhìn về nền tảng tồn tại và phát triển của quốc gia trong buổi đầu dựng xây đất nước.
Nhìn lại chặng đường lịch sử, có thể thấy tư duy của Bác về nông nghiệp luôn nhất quán và sâu sắc. Trong hoàn cảnh đất nước vừa giành được độc lập, bộn bề khó khăn, Người vẫn dành sự quan tâm đặc biệt cho nông dân, nông thôn và sản xuất nông nghiệp. Bác hiểu rằng muốn giữ vững nền độc lập non trẻ thì trước hết nhân dân phải có cái ăn, cái mặc; đất nước muốn ổn định thì phải bắt đầu từ ruộng đồng.
Nhiều lần, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò của nông nghiệp đối với đời sống dân tộc. Người nói: “Loài người ai cũng dĩ thực vi tiên, nước ta thì dĩ nông vi bản”. Một câu nói ngắn gọn nhưng hàm chứa tư tưởng lớn: Nông nghiệp không chỉ bảo đảm lương thực mà còn là gốc rễ của nền kinh tế, là chỗ dựa cho sự phát triển bền vững của đất nước. Vì vậy, Bác căn dặn phải quý đất đai, chăm lo sản xuất, “không nên bỏ hoang một tấc đất nào”, bởi “mỗi tấc đất là một tấc vàng”.
Trong những năm kháng chiến, tư tưởng ấy được cụ thể hóa bằng lời kêu gọi tăng gia sản xuất để phục vụ tiền tuyến, bảo đảm quân lương cho kháng chiến lâu dài. Khi hòa bình lập lại, Bác tiếp tục với chuyện thủy lợi, cải tạo đồng ruộng, tiết kiệm tài nguyên, nâng cao đời sống nông dân. Với Người, phát triển nông nghiệp không đơn thuần là làm ra của cải vật chất mà còn là chăm lo cho dân sinh, giữ ổn định xã hội và tạo nền móng cho công cuộc kiến thiết đất nước.
Từ tư tưởng của Bác, qua mỗi giai đoạn phát triển, Đảng và Nhà nước đều dành sự quan tâm đặc biệt cho lĩnh vực “tam nông”. Tùy điều kiện từng thời kỳ, nhiều chủ trương, chính sách lớn đã được ban hành nhằm thúc đẩy nông nghiệp phát triển theo hướng toàn diện và bền vững, đồng thời nâng cao vai trò của người nông dân trong tiến trình phát triển đất nước. Nằm trong dòng chảy đó, Nghệ An đã có những tiếp bước để đưa nông nghiệp tiến xa hơn.
Với diện tích tự nhiên lớn nhất cả nước hơn 16.486km², địa phương này được xem là có nhiều dư địa để phát triển nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn. Nằm ở khu vực Bắc Trung Bộ, địa hình của tỉnh trải dài từ miền núi, trung du đến đồng bằng ven biển, tạo nên ba vùng sinh thái rõ nét. Chính sự đa dạng ấy đã hình thành những tiểu vùng sản xuất khác nhau, phù hợp với nhiều loại cây trồng, vật nuôi đặc trưng.
Toàn tỉnh hiện có hơn 1,4 triệu ha đất nông nghiệp. Đất sản xuất phân bố ở cả miền núi, trung du lẫn ven biển giúp Nghệ An có điều kiện lựa chọn và phát triển các loại nông sản hàng hóa theo hướng chuyên canh, gắn với nhu cầu thị trường. Đặc biệt, những năm gần đây, định hướng phát triển nông nghiệp của tỉnh cũng dần rõ hơn khi bám sát tinh thần Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết đặt ra yêu cầu phát triển nền nông nghiệp hiệu quả, bền vững, theo hướng sinh thái, ứng dụng khoa học – công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
Từ định hướng đó, Nghệ An đã rà soát lại quỹ đất nông nghiệp sản xuất kém hiệu quả, kể cả một số diện tích đất lúa, để từng bước chuyển đổi sang các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao hơn. Không dừng lại ở trồng trọt, tỉnh cũng đang từng bước tái cơ cấu tổng thể các lĩnh vực chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản. Thay vì phát triển riêng lẻ, các ngành được đặt trong một quy hoạch đồng bộ hơn, hướng đến khai thác lợi thế từng vùng sinh thái và thích ứng với yêu cầu phát triển mới. Đây được xem là bước chuyển cần thiết để nông nghiệp Nghệ An không chỉ phát triển theo chiều rộng mà còn tạo ra giá trị bền vững trong dài hạn.
Nhìn tổng thể ngành nông nghiệp Nghệ An năm 2025 đạt nhiều kết quả tích cực, tổng sản phẩm (GRDP) nông, lâm, ngư nghiệp theo giá hiện hành ước đạt 49.432 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng GRDP năm 2025 ước đạt 2,66%; tỷ lệ che phủ rừng đạt 59,01%... |
Tạo vùng hàng hóa lớn căn theo lợi thế từng địa phương
Trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, làm nông nghiệp không chỉ dừng lại ở chuyện tăng gia sản xuất mà quan trọng hơn là biết tổ chức sản xuất hợp lý, phát huy thế mạnh từng vùng để tạo ra giá trị hàng hóa bền vững. Người từng nói: “Nơi nào sản xuất lúa nhiều và tốt thì nơi đó sẽ thành vùng sản xuất lúa là chính, nơi nào sản xuất chè nhiều và tốt thì nơi đó sẽ thành vùng sản xuất chè là chính…”. Đó là cách nhìn mang tính định hướng rất sớm về phát triển nông nghiệp theo vùng chuyên canh, theo chuỗi giá trị, điều mà đến hôm nay vẫn còn nguyên tính thời sự.
Từ tư tưởng ấy nhìn về thực tiễn ở Nghệ An, đặc biệt trong lĩnh vực trồng trọt, có thể thấy nhiều chuyển động rõ nét trên đồng ruộng những năm gần đây. Hàng loạt nghị quyết, đề án, cơ chế hỗ trợ được triển khai đã tạo ra cú hích cho sản xuất nông nghiệp, giúp nhiều địa phương mạnh dạn thay đổi tư duy canh tác. Không còn sản xuất nhỏ lẻ, manh mún như trước, nhiều vùng đã bắt đầu hình thành các khu sản xuất tập trung gắn với doanh nghiệp, chế biến và thị trường tiêu thụ.
Một trong những hướng đi đáng chú ý là chuyển đổi nhiều diện tích canh tác cây trồng truyền thống kém hiệu quả sang những loại cây phù hợp hơn với thổ nhưỡng, khí hậu. Thực tế ở các vùng bán sơn địa như Đại Đồng, Tân Kỳ, Giai Xuân hay Quỳnh Thắng cho thấy rõ điều đó. Trên những vùng đất từng gắn với các loại cây năng suất thấp, nay nhiều hộ dân đã chuyển sang trồng dứa nguyên liệu phục vụ chế biến sâu. Khi doanh nghiệp tham gia chuỗi liên kết, địa phương đồng hành trong quy hoạch và tổ chức sản xuất, vùng nguyên liệu dần được hình thành theo hướng tập trung, quy mô lớn. Theo định hướng của tỉnh, đến năm 2030, diện tích trồng dứa toàn tỉnh dự kiến đạt khoảng 5.000 ha.
Bà Võ Thị Nhung, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An cho biết: Việc quyết liệt mở rộng diện tích trồng dứa theo hướng chuyên canh hàng hóa hôm nay nhằm đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất, chế biến. Khi nhà máy đi vào hoạt động với quy mô bài bản sẽ hình thành chuỗi sản xuất khép kín, từ trồng dứa, sản xuất bao bì, nhãn mác đến tận dụng, xử lý phế phụ phẩm theo hướng tuần hoàn, qua đó nâng cao giá trị sản phẩm và giảm tác động đến môi trường.
Theo bà Nhung, giải pháp mà Nghệ An hướng đến là sẽ tiếp tục mở rộng vùng nguyên liệu gắn với liên kết bao tiêu theo chuỗi giá trị; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng những tiến bộ khoa học công nghệ để nhân nhanh giống dứa bằng công nghệ cao nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển diện tích trong giai đoạn mới.
Không riêng cây dứa, nhóm cây trồng khác như chè, cam, bưởi cũng đang được nhìn nhận lại theo hướng phát triển bền vững hơn. Riêng cây có múi, hiện toàn tỉnh có hơn 6.300 ha với sản lượng mỗi năm khoảng 97.000 tấn. Trong đó, cam Vinh tiếp tục là sản phẩm có chỗ đứng riêng trên thị trường nhờ vị ngọt thanh và hương thơm đặc trưng khó lẫn với nhiều vùng khác.
Tuy nhiên, sản xuất nhiều thôi là chưa đủ. Điều mà nông nghiệp Nghệ An đang hướng tới là xây dựng vùng nguyên liệu đạt tiêu chuẩn, gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ ổn định. Việc áp dụng các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP hay sản xuất hữu cơ đang được mở rộng nhằm nâng chất lượng nông sản, đáp ứng yêu cầu tiêu dùng. Quan trọng hơn, cách làm này góp phần giảm phát thải trong sản xuất.