Khi dứa trở thành cây trồng chủ lực trong sản xuất nông nghiệp, diện mạo nhiều cánh đồng trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã thay đổi rõ rệt. Những diện tích trước đây sản xuất manh mún, nhỏ lẻ với các cây trồng truyền thống nay được phủ xanh bởi các vùng dứa tập trung liền vùng, liền khoảnh.
Đến Giai Xuân xem nông dân “làm mới” đồi đất đỏ
Dù sở hữu những đồi đất đỏ khá màu mỡ, thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng nhưng người dân miền núi Giai Xuân bao năm qua vẫn loay hoay trước bài toán lựa chọn cây trồng phù hợp. Ngoài keo, sắn, mía hay cao su… hầu như chưa có phương án nào thực sự khả dĩ để thay thế, khiến sản xuất còn phụ thuộc và thiếu tính bền vững.
Tuy nhiên, câu chuyện đang dần rẽ sang một hướng mới, tích cực hơn khi cây dứa bắt đầu “mở lối”. Để rồi trở lại Giai Xuân những ngày này, dễ dàng nhận thấy sự đổi thay trên các triền đồi. Nhiều diện tích trước đây phủ kín mía, keo, cao su… nay dần được thay thế bởi những luống dứa xanh mướt đang “bén duyên” trên vùng đất đỏ, mang theo kỳ vọng về một hướng đi mới đầy khởi sắc cho người dân.
Đặt chân đến thôn Kẻ Thai, không khó để bắt gặp không khí rôm rả trên các sườn đồi. Người trồng dứa vừa làm vừa chuyện trò, tiếng cười nói xen lẫn giữa cái nắng miền Trung đã bắt đầu gay gắt. Tuy nhiên, trên gương mặt họ vẫn ánh lên sự hồ hởi, như đang bước vào một hành trình mới với nhiều kỳ vọng đổi thay cho nghề nông.
Ông Nguyễn Văn Quang, lão nông ở xóm Kẻ Thai tay bắt mặt mừng khi gặp khách lạ. Câu chuyện về việc chuyển sang trồng dứa được ông kể rành rọt. Mảnh đất này trước đây gắn bó lâu năm với cây cao su. Dù từng nghĩ đến chuyện chuyển đổi, nhưng tìm được loại cây phù hợp, lại đảm bảo đầu ra và thu nhập tốt hơn không phải điều dễ. Theo ông, nếu chuyển sang mía thì hiệu quả cũng không cải thiện là bao, trong khi phải chặt bỏ toàn bộ cao su và loay hoay tìm đầu ra mới. Thế nên, ông từng chọn cách “giữ lại” cao su, mỗi năm khai thác rải rác cũng mang về khoảng 40 triệu đồng/ha đủ để cầm cự, nhưng điều đó là chưa đủ để khiến ông thôi nghĩ đến một hướng đi khác.
Đến cuối năm 2025, khi chủ trương trồng dứa được triển khai sâu rộng trong xã, ông Quang quyết định làm một bước đi táo bạo là chặt bỏ toàn bộ cao su để chuyển đổi. Nhắc lại quyết định ấy, ông không giấu được niềm vui: “1 ha dứa tôi trồng khoảng 55.000 chồi. Đây là lần đầu tiên làm, nhưng tôi tin vào loại cây này. Đất hợp, lại có hỗ trợ giống, kỹ thuật, rồi bao tiêu đầu ra… Nói thật, nông dân như chúng tôi chỉ cần trồng và chăm đúng kỹ thuật, còn lại cũng yên tâm phần nào. Tôi còn một số diện tích đang trồng mía, sang năm tiếp tục chuyển đổi trồng dứa”.
Không chỉ với những hộ chuyển đổi đất, nghề trồng dứa còn mở ra thêm việc làm cho nhiều lao động địa phương. Dù vất vả, nhưng người lao động vẫn miệt mài trồng những chồi dứa cuối cùng trong ngày và trên gương mặt họ vẫn ánh lên sự tươi tắn. Chị Nguyễn Thị Đương ở xóm Đồi Chè cho hay: “Với công việc nhận khoán trồng dứa cho các hộ dân trong xã, mỗi tháng tôi có thể kiếm được từ 7 đến 9 triệu đồng. Đây là một khoản thu nhập khá lớn cho người lao động thôn quê như chúng tôi”.
Đợt 1/2026, xã Giai Xuân đã có tới 73 hộ tham gia với diện tích: 110,0 ha. Theo kế hoạch, năm 2026, xã dự kiến trồng khoảng 300 ha dứa và phấn đầu đến năm 2030 sẽ mở rộng diện tích trồng dứa lên trên 2.000 ha. |
Điều đáng chú ý là hiện nay, xã Giai Xuân đã thành lập được 12/14 tổ hợp tác trồng dứa ở 12 xóm. Đặc biệt, xã phối hợp với Trung tâm giống Nông nghiệp lựa chọn 3 địa điểm để làm mô hình dứa Cayene và dứa MD2 đảm bảo thuận lợi cho quá trình sản xuất, thăm quan, học tập mô hình để nhân ra diện rộng.
Tăng năng suất, nâng giá trị từ liên kết sản xuất
Câu chuyện của cây dứa và rộng hơn là sản xuất nông nghiệp lâu nay vẫn quanh quẩn với những “điểm nghẽn” cũ. Đất đai manh mún, sản xuất nhỏ lẻ; dịch bệnh diễn biến phức tạp,…
Có thâm niên trong nghề trồng dứa, chị Nguyễn Thị Khuyên ở xã Quỳnh Thắng thẳng thắn chia sẻ: "Với cây dứa dễ gặp nhất là bệnh thối nõn do nấm Phytophthora khiến năng suất và chất lượng giảm sút rõ rệt. Đầu ra thì phụ thuộc nhiều vào thương lái, giá cả bấp bênh, khâu bảo quản sau thu hoạch còn yếu nên sản phẩm dễ xuống cấp".
Một thực tế khác cũng dễ thấy: liên kết giữa 4 nhà (nông dân – hợp tác xã – doanh nghiệp – nhà khoa học) chưa thực sự chặt chẽ. Không ít mối liên kết chỉ dừng ở thỏa thuận miệng, thuận thì làm, khó thì đứt gãy. Trong khi đó, để bước vào các thị trường có giá trị cao, sản phẩm buộc phải đáp ứng quy trình sản xuất nghiêm ngặt, từ an toàn thực phẩm đến truy xuất nguồn gốc.
Ở phía doanh nghiệp, bài toán cũng không hề đơn giản. Muốn đầu tư chế biến quy mô lớn thì cần vùng nguyên liệu đủ rộng, ổn định và đồng đều nhưng đây lại là điều khó nhất. Chưa kể, với những địa phương mới bắt đầu trồng dứa, đây vẫn là cây trồng “lạ” nên nông dân còn tâm lý e dè.
Dù vẫn còn đó những khó khăn, không khó để hình dung nhưng bức tranh đang dần có gam màu sáng hơn. Một trong những điểm tựa quan trọng là Nghị quyết số 34/2025/NQ-HĐND của tỉnh Nghệ An về chính sách phát triển nông nghiệp giai đoạn 2026–2030. Từ đây, câu chuyện phát triển cây dứa không còn là tự phát, mà bắt đầu đi theo hướng bài bản hơn.
Đáng chú ý là sự tham gia của doanh nghiệp, đặc biệt là Công ty Cổ phần Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao. Doanh nghiệp này đang nghiên cứu đầu tư nhà máy chế biến hoa quả công nghệ cao tại Nghệ An, với quy mô khoảng 10 ha, công suất dự kiến 50.000 tấn sản phẩm mỗi năm và dự kiến khởi công trong tháng 6 năm 2026 và đưa vào hoạt động trong năm 2027. Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết là phải xây dựng được vùng nguyên liệu khoảng 1.000 ha đủ tiêu chuẩn.
Khi nhà máy đi vào hoạt động, câu chuyện liên kết sẽ không còn mang tính hình thức. Doanh nghiệp cam kết ký hợp đồng với nông dân, hợp tác xã, thu mua toàn bộ sản phẩm theo thỏa thuận; đồng thời hỗ trợ giống, vật tư và chuyển giao kỹ thuật. Mối quan hệ khi đó không còn là “mua bán” đơn thuần mà là gắn bó dài hạn trong chuỗi sản xuất.
Ngay tại diễn đàn nông sản Bắc Trung Bộ được tổ chức tại Nghệ An, TS. Nguyễn Quý Dương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật khẳng định: Giống dứa chủ yếu được trồng tại vùng Bắc Trung Bộ gồm: Dứa Queen (dứa hoàng hậu), dứa Cayenne và giống MD2. Hiện tại dứa Queen vẫn chiếm tỷ lệ lớn nhất ở Bắc Trung Bộ vì phù hợp với điều kiện thời tiết, khí hậu, đất đai và thị hiếu tiêu dùng trong nước. Năng suất dứa Queen trung bình đạt 40-55 tấn/ha; Cayenne 50-65 tấn/ha; MD2 60-75 tấn/ha. Đây chính là ưu thế cho Nghệ An khi tạo ra vùng nguyên liệu dứa rộng lớn là Cayene và MD2.
Điều đáng nói, sau khi nghị quyết 34 được ban hành, ngành Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Nghệ An đã vào cuộc khá quyết liệt. Từ việc định hướng vùng trồng, hỗ trợ kỹ thuật đến chuẩn bị nguồn giống,… mọi thứ đều hướng tới mục tiêu hình thành vùng nguyên liệu đủ lớn, đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp chế biến. Ở nhiều địa phương, nông dân đã bắt đầu trồng theo kế hoạch liên kết, thay vì làm riêng lẻ như trước.
Sát sao hơn, Hội Nông dân tỉnh đã “bắt tay” cùng đồng hành với nông dân trong việc tạo điều kiện để các hộ tham gia liên kết được tiếp cận nguồn phân bón theo các chương trình hỗ trợ hiện có. Đồng thời, chỉ đạo Hội Nông dân cấp xã phối hợp triển khai phát triển vùng nguyên liệu, hỗ trợ doanh nghiệp trong tổ chức sản xuất tại địa phương. Công tác tập huấn, chuyển giao kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hoạch cũng sẽ được phối hợp thực hiện, bảo đảm tuân thủ quy trình do doanh nghiệp hướng dẫn.
Bên cạnh đó, Hội đẩy mạnh tuyên truyền, vận động hội viên nâng cao ý thức chấp hành các cam kết trong liên kết sản xuất – tiêu thụ. Đồng thời, phối hợp với doanh nghiệp theo dõi, nắm bắt tình hình sản xuất, thu hoạch và tiêu thụ nông sản; kịp thời trao đổi, xử lý các trường hợp phát sinh, nhất là những dấu hiệu không thực hiện đúng các nội dung đã cam kết trong liên kết…
Nhằm đáp ứng nguyên liệu cho doanh nghiệp, tỉnh Nghệ An cũng đặt ra mục tiêu rõ ràng: Đến năm 2030, diện tích trồng dứa đạt khoảng 5.000 ha. Riêng năm 2026 dự kiến trồng mới 1.000 ha, năm 2027 nâng lên khoảng 2.000 ha, từng bước hình thành vùng nguyên liệu hàng hóa tập trung.
Để đạt diện tích trồng dứa theo kế hoạch, hiện nay, một số địa phương của Nghệ An đã có nền tảng từ trước như Quỳnh Thắng, Quỳnh Sơn… tiếp tục mở rộng, trong khi các vùng mới như Giai Xuân, Tân An, Đại Đồng, Hạnh Lâm… đã nhập cuộc theo định hướng.
Việc liên kết hướng đến chế biến sâu sẽ giảm áp lực “được mùa mất giá”, nông sản không còn chỉ bán tươi mà có thể đi sâu vào chuỗi giá trị. Khi đó, sản phẩm dứa không chỉ nằm ở trọng lượng hay mẫu mã, mà ở chất lượng và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn vươn ra thị trường rộng lớn.