news
Xuất bản: Thứ bảy, 19/9/2026, 08:01 (GMT+7)

thumbnail_1789546548.jpg

nenchen_1789542485.jpg

tit-1_1789542641.jpgnenchen_1789542485.jpg

lanh-dao-3_1789547507.jpg
Chiều 14/9/2026, Đoàn công tác của UBND tỉnh Nghệ An do ông Nguyễn Văn Đệ (hàng trước, bên phải), Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm trưởng đoàn vừa kiểm tra tình hình thủy sản, công tác phòng, chống khai thác IUU và công tác phòng, chống thiên tai kiểm tra cảng cá Lạch Quèn, xã Quỳnh Phú.

nenchen_1789542485.jpg

Theo Quyết định số 582/QĐ-TTg ngày 3/7/2024 của Thủ tướng Chính phủ về Quy hoạch hệ thống cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 thì Nghệ An có 7 cảng cá, 5 khu neo đậu tránh trú bão. Trong quy hoạch chung của cả nước, trên địa bàn Nghệ An có 7 cảng cá được đưa vào quy hoạch, trong đó có 3 cảng cá loại I, 2 cảng cá loại II và 2 cảng cá loại III.

Tuy nhiên, hiện nay hạ tầng, trang thiết bị tại một số cảng cá và lực lượng thực hiện nhiệm vụ còn hạn chế so với yêu cầu; trong khi nhiệm vụ kiểm soát tàu cá, giám sát sản lượng và truy xuất nguồn gốc ngày chặt chẽ.

nenchen_1789542485.jpg

hop_1789544791.jpg
Các cuộc họp được tổ chức trong và sau chuyến thực tế của lãnh đạo Sở nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong lĩnh vực thủy sản.

nenchen_1789542485.jpg

Trong chuyến thực tế tại một số cảng cá trên địa bàn, ông Nguyễn Danh Hùng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Nghệ An cũng nhận định đây là một trong những vấn đề tỉnh Nghệ An đang tập trung khắc phục và để công tác chống khai thác IUU đạt hiệu quả cao, tại đây Phó Giám đốc Sở cũng đã nêu ra 3 nhóm giải pháp chính:

Thứ nhất, từng bước hoàn thiện hạ tầng và trang thiết bị tại cảng cá. Sở sẽ rà soát thực trạng từng cảng để báo cáo UBND tỉnh ưu tiên những hạng mục cần đầu tư trước, nhất là hạ tầng tại cảng, thiết bị phục vụ kiểm soát tàu ra, vào cảng, giám sát sản lượng bốc dỡ, lưu trữ hồ sơ và kết nối dữ liệu. Việc đầu tư sẽ theo hướng đúng nhu cầu, có trọng tâm, tránh dàn trải, ưu tiên các cảng có sản lượng khai thác lớn và vai trò quan trọng trong kiểm soát nguồn gốc thủy sản.

Thứ hai, nâng cao năng lực, chất lượng lực lượng thực hiện nhiệm vụ tại cảng. Sở sẽ phối hợp với các địa phương rà soát, bố trí nhân lực phù hợp với khối lượng công việc; đồng thời tăng cường tập huấn nghiệp vụ, thống nhất quy trình kiểm tra, giám sát và trách nhiệm của địa phương, BQL Cảng cá. Đặc biệt, sẽ tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý thủy sản (Chi cục Thuỷ sản và Kiểm ngư), Ban quản lý cảng cá, Bộ đội Biên phòng và chính quyền địa phương để không để xảy ra khoảng trống trong kiểm soát tàu cá và sản lượng thủy sản cập cảng.

Thứ ba, đẩy mạnh chuyển đổi số để giảm áp lực cho lực lượng tại cảng và nâng cao tính minh bạch. Sở sẽ tiếp tục khai thác hiệu quả eCDT, eLogbook và các cơ sở dữ liệu nghề cá; từng bước kết nối, đối chiếu dữ liệu giữa tàu cá - chuyến biển - nhật ký khai thác - sản lượng bốc dỡ - hồ sơ truy xuất nguồn gốc. Những trường hợp dữ liệu không phù hợp, sản lượng có dấu hiệu bất thường hoặc tàu cá không thực hiện đúng quy định sẽ được xác định để tập trung kiểm tra, xử lý.

nenchen_1789542485.jpg

box-1_1789542566.jpg

nenchen_1789542485.jpg

Quan điểm là không chỉ giải quyết vấn đề về nhân lực bằng cách tăng thêm người, mà phải kết hợp giữa đầu tư hạ tầng, kiện toàn lực lượng và ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số để nâng cao hiệu quả quản lý. Cùng với đó, trách nhiệm của chủ tàu, thuyền trưởng, doanh nghiệp thu mua, cơ sở chế biến và đơn vị quản lý cảng phải được nâng lên; sản phẩm thủy sản đưa vào bờ phải được kiểm soát và truy xuất được nguồn gốc.

nenchen_1789542485.jpg

tit-2_1789542705.jpg

nenchen_1789542485.jpg

Xác định công tác Chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo, không theo quy định (IUU), gỡ cảnh báo "Thẻ vàng" là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, cấp bách, đòi hỏi quyết tâm chính trị cao nhất và hành động đồng bộ quyết liệt từ Trung ương đến cơ sở. Chống IUU cần phải gắn liền với việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản và bảo đảm, ổn định sinh kế lâu dài cho ngư dân.

Hướng đến phát triển thủy sản bền vững, tỉnh Nghệ An đã ra Quyết định số 4493/QĐ-UBND phê duyệt Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản trên các hồ chứa của tỉnh Nghệ An đến năm 2030. Đặc biệt, Nghị quyết số 34/2025/NQ-HĐND ngày 12/12/2025 quy định chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2026-2030, trong đó có nhiều chính sách trực tiếp hỗ trợ ngư dân, doanh nghiệp và các mô hình sản xuất thủy sản theo hướng hiệu quả, bền vững.

Riêng đối với khai thác thủy sản, địa phương này tập trung hỗ trợ theo hướng nâng cao hiệu quả sản xuất, cải thiện điều kiện bảo quản và tăng tính tuân thủ. Cụ thể, hỗ trợ 50% chi phí lắp đặt hệ thống tời thủy lực cho tàu cá nghề lưới chụp, tối đa 250 triệu đồng/tàu; hỗ trợ 50% chi phí đầu tư hầm bảo quản bằng vật liệu PU, tối đa 200 triệu đồng/tàu; hỗ trợ thay thế thiết bị giám sát hành trình chưa đạt chuẩn, đồng thời hỗ trợ 70% cước thuê bao dịch vụ giám sát hành trình, tối đa 250.000 đồng/tàu/tháng.

 

nenchen_1789542485.jpg

 

anh-4-bai-cuoi_1789544648.jpg
Một trong những tàu được nhận chính sách hỗ trợ của tỉnh để hoán cải từ nghề lưới kéo sang nghề câu tay .

nenchen_1789542485.jpg

Quan trọng hơn, tỉnh Nghệ An đã đưa chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề vào nhóm giải pháp trọng tâm. Đối với tàu cá đang sử dụng nghề lưới kéo - là nghề có tác động lớn đến nguồn lợi và hệ sinh thái - tỉnh hỗ trợ chuyển sang nghề khai thác thân thiện với môi trường, với mức tối đa 50 triệu đồng/mô hình đối với tàu từ 12 đến dưới 15mét và 150 triệu đồng/mô hình đối với tàu từ 15 mét trở lên. Trường hợp chủ tàu giải bản tàu cá để chuyển sang hoạt động khác, không khai thác thủy sản, được hỗ trợ 50 triệu đồng/tàu.

nenchen_1789542485.jpg

lach-quen-copy_1789542866.jpg
Cảng cá Lạch Quèn - nơi neo đậu, tránh trú bão và lên cá cho hàng nghìn tàu thuyền công suất lớn của ngư dân Nghệ An và các tỉnh lân cận.

nenchen_1789542485.jpg

Qua trao đổi, ông Nguyễn Danh Hùng – Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Nghệ An khẳng định: Đây là hướng đi chúng tôi xác định cần được đẩy mạnh trong thời gian tới: không chỉ hướng đến việc giảm cường độ khai thác, mà phải tạo điều kiện để ngư dân có sinh kế thay thế và thu nhập ổn định. Bên cạnh đó, tỉnh cũng khuyến khích phát triển nuôi trồng thủy sản, nhất là các mô hình ứng dụng công nghệ cao, kiểm soát tốt dịch bệnh, có hiệu quả kinh tế. Nghị quyết 34/2025/NQ-HĐND có chính sách hỗ trợ nuôi thâm canh tôm thẻ chân trắng, nuôi cá lồng trên sông, hồ nước lớn và hỗ trợ phát triển, sản xuất các giống thủy sản có giá trị kinh tế. Đây là cơ sở để từng bước mở rộng các mô hình sinh kế gắn với nuôi trồng, giảm áp lực phụ thuộc hoàn toàn vào khai thác tự nhiên.

nenchen_1789542485.jpg

cum-anh-1_1789544512.jpg
Tỉnh Nghệ An đã ban hành nhiều chính sách trực tiếp hỗ trợ ngư dân, doanh nghiệp và các mô hình sản xuất thủy sản theo hướng hiệu quả, bền vững. 

nenchen_1789542485.jpg

“Thời gian tới, Sở sẽ rà soát cụ thể từng nhóm đối tượng, từng địa bàn và từng loại nghề khai thác để có giải pháp phù hợp; ưu tiên hỗ trợ để giảm dần các nghề tác động lớn đến nguồn lợi, các nhóm ngư dân có nhu cầu chuyển đổi và những địa bàn có điều kiện phát triển nuôi trồng, dịch vụ hậu cần, chế biến thủy sản. Đồng thời, Sở sẽ tham mưu UBND tỉnh có chỉ đạo trong tăng cường đào tạo nghề, kết nối thị trường và khuyến khích liên kết sản xuất để bảo đảm người dân chuyển đổi được nghề và có thu nhập thực tế, chứ không chỉ dừng ở hỗ trợ đầu tư ban đầu”, ông Hùng cho biết thêm.

Chống khai thác IUU phải gắn với bảo đảm sinh kế và nâng cao đời sống ngư dân chính là quan điểm xuyên suốt. Mục tiêu là từng bước chuyển từ các hoạt động khai thác gây tác động đến nguồn lợi và hệ sinh thái sang khai thác có trách nhiệm, hiệu quả, phù hợp với khả năng phục hồi của nguồn lợi, đồng thời phát triển các sinh kế thay thế và nâng cao giá trị sản phẩm thủy sản.

Qua đó, vừa bảo vệ nguồn lợi, thực hiện nghiêm các quy định về chống khai thác IUU, vừa giúp ngư dân ổn định sản xuất, yên tâm bám biển và tạo nền tảng để ngành thủy sản Nghệ An phát triển bền vững, có trách nhiệm và nâng cao giá trị.

Bùi Ánh - Chu Hồng Châu
  • Nâng cao hiệu quả quản lý khu bảo tồn biển Việt Nam

    Nâng cao hiệu quả quản lý khu bảo tồn biển Việt Nam

    Nếu trước đây bảo tồn biển thường được nhìn nhận đơn thuần là hoạt động bảo vệ các loài sinh vật quý hiếm, thì ngày nay khái niệm này đã được mở rộng thành một mô hình quản trị tổng hợp, kết hợp giữa bảo tồn thiên nhiên, phát triển sinh kế cộng đồng, quản lý nghề cá bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu. Nói cách khác, hiệu quả của một khu bảo tồn biển (KBTB) không chỉ được đo bằng diện tích được khoanh vùng bảo vệ mà còn bằng khả năng duy trì chức năng sinh thái, phục hồi nguồn lợi và mang lại lợi ích kinh tế - xã hội cho cộng đồng địa phương.

  • Xã Nam Cường định hướng phát triển nuôi biển bền vững

    Xã Nam Cường định hướng phát triển nuôi biển bền vững

    Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh (Nghị quyết 20) đặt ra những định hướng quan trọng nhằm phát triển kinh tế biển theo hướng hiện đại, xanh và bền vững. Tại xã Nam Cường, tỉnh Hưng Yên, việc cụ thể hóa những định hướng này đang đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức sản xuất, nâng cao giá trị thủy sản và gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường. Phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã trao đổi với ông Bùi Văn Quyết, Phó Chủ tịch UBND xã Nam Cường về những bước triển khai Nghị quyết trong phát triển nuôi biển tại địa phương.

  • Bốn khâu đột phá mở đường cho tăng trưởng kinh tế biển xanh

    Bốn khâu đột phá mở đường cho tăng trưởng kinh tế biển xanh

    Biển không chỉ là không gian sinh tồn, cửa ngõ giao thương và nguồn tài nguyên chiến lược của quốc gia mà còn là động lực tăng trưởng quan trọng trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp và yêu cầu phát triển xanh trở thành xu thế tất yếu, phát triển kinh tế biển bền vững đang được xác định là một trong những trụ cột chiến lược để đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển.

  • Kỳ 3: Kiến tạo tương lai từ biển trong kỷ nguyên vươn mình

    Kỳ 3: Kiến tạo tương lai từ biển trong kỷ nguyên vươn mình

    Nếu Kỳ I phân tích sự đổi mới tư duy về phát triển biển, Kỳ II phản ánh các chương trình hành động đưa Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh vào cuộc sống, thì trong Kỳ III, Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường tập trung làm rõ những động lực phát triển mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và quản trị hiện đại.

  • Kỳ 2: Hiện thực hóa Nghị quyết 20: Từ quản trị tài nguyên đến phát triển kinh tế biển xanh

    Kỳ 2: Hiện thực hóa Nghị quyết 20: Từ quản trị tài nguyên đến phát triển kinh tế biển xanh

    Không gian biển chỉ thực sự trở thành động lực phát triển khi những chủ trương lớn của Đảng được cụ thể hóa bằng chính sách, chương trình và những hành động thực chất. Từ hoàn thiện thể chế, quy hoạch không gian biển, điều tra cơ bản, chuyển đổi số, phát triển nuôi biển công nghệ cao đến bảo tồn hệ sinh thái và xây dựng kinh tế biển xanh, ngành Nông nghiệp và Môi trường đang từng bước hiện thực hóa Nghị quyết số 20-NQ/TW, hướng tới cách tiếp cận mới: khai thác hợp lý, bảo vệ tài nguyên và kiến tạo những giá trị phát triển lâu dài từ biển.