Những tháng cuối năm đặt ra yêu cầu cao hơn đối với công tác chỉ đạo, điều hành của ngành Nông nghiệp và Môi trường. Trên nền kết quả đã đạt được, Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng yêu cầu các đơn vị bám sát thực tiễn, chủ động xử lý khó khăn, giữ mục tiêu tăng trưởng khu vực nông, lâm, thủy sản ở mức 4% và phấn đấu đưa kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản cả năm 2026 lên 74,2 tỷ USD. Tinh thần xuyên suốt là tăng tốc nhưng không chủ quan, quyết liệt nhưng phải bảo đảm chất lượng và tính bền vững.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường tăng tốc bằng trách nhiệm, về đích bằng chất lượng, tạo đà phát triển bền vững. |
Tại cuộc họp về nhiệm vụ những tháng cuối năm sáng ngày 8/9, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng dành nhiều thời gian nghe lãnh đạo các đơn vị chuyên môn báo cáo về sản xuất, thị trường, thiên tai, môi trường và tiến độ triển khai những nhiệm vụ trọng tâm. Yêu cầu được đặt ra là báo cáo phải ngắn gọn, đi thẳng vào khó khăn, nhận diện những yếu tố có thể tác động đến kết quả chung và đề xuất phương án xử lý cụ thể.
Không khí trao đổi tập trung vào những vấn đề đang diễn ra trực tiếp trên đồng ruộng, tại vùng nuôi, trong cơ sở sản xuất và trên thị trường. Trồng trọt bước vào giai đoạn vừa tổ chức thu hoạch, vừa chuẩn bị mùa vụ tiếp theo. Chăn nuôi đứng trước yêu cầu kiểm soát dịch bệnh, ổn định đầu vào và chuẩn bị nguồn cung cuối năm. Thủy sản phải duy trì sản xuất, đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc và tiếp tục khắc phục những tồn tại trong quản lý khai thác. Lâm nghiệp vừa bảo vệ rừng, vừa bảo đảm nguồn nguyên liệu hợp pháp cho chế biến và xuất khẩu.
Kết quả công bố tại cuộc họp cho thấy, khu vực nông, lâm, thủy sản quý II tăng 4,06%, cao hơn kịch bản 3,8%; tính chung 6 tháng tăng 3,87%, vượt mục tiêu 3,7%. Đây là nền tảng quan trọng, nhưng không phải lý do để chủ quan. Mỗi lĩnh vực có mùa vụ, thị trường và mức độ rủi ro khác nhau; thiên tai, dịch bệnh hoặc một yêu cầu kỹ thuật mới từ thị trường nhập khẩu đều có thể tác động ngay đến sản xuất và doanh nghiệp. Vì vậy, kịch bản tăng trưởng phải được cụ thể hóa đến từng nhóm sản phẩm và cập nhật thường xuyên.
Lãnh đạo Bộ yêu cầu các đơn vị quản lý sản xuất chịu trách nhiệm đối với lĩnh vực được giao, không chờ đến kỳ báo cáo mới nhận diện vướng mắc. Khi thị trường có tín hiệu thay đổi, cơ quan chuyên môn phải kịp thời cung cấp thông tin cho địa phương, doanh nghiệp và người sản xuất. Khi thiên tai gây thiệt hại, phương án khôi phục cần được triển khai sớm. Khi một ngành hàng gặp rào cản kỹ thuật, đơn vị phụ trách phải xác định rõ nguyên nhân, thẩm quyền xử lý và cơ quan cần phối hợp.
Đối với thủy sản, dư địa tăng trưởng gắn với nuôi trồng các sản phẩm có lợi thế, nhưng sản lượng phải đi cùng kiểm soát môi trường nuôi, dịch bệnh, thức ăn và con giống. Ở lĩnh vực khai thác, yêu cầu quản lý tàu cá, kiểm soát sản lượng qua cảng, xử lý vi phạm và bảo đảm truy xuất nguồn gốc tiếp tục được đặt ở mức cao. Đây không chỉ là việc thực hiện các cam kết quốc tế, mà còn là điều kiện bảo vệ uy tín và khả năng cạnh tranh của thủy sản Việt Nam.
Đối với trồng trọt, chăn nuôi và lâm nghiệp, yêu cầu chung là tổ chức sản xuất theo tín hiệu thị trường, chủ động phòng ngừa thiên tai, dịch bệnh và kiểm soát chất lượng đầu vào. Việc phát triển vùng nguyên liệu, vùng an toàn dịch bệnh, quản lý mã số vùng trồng và bảo đảm nguồn gỗ hợp pháp phải được triển khai thực chất, tạo nền tảng cho chế biến và xuất khẩu.
Trong chặng đường những ngày tháng cuối năm, thị trường là một trong những yếu tố được lãnh đạo Bộ đặc biệt quan tâm. Tám tháng đầu năm, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 49,3 tỷ USD, tăng 7%; xuất siêu đạt 14,25 tỷ USD. Để hoàn thành mục tiêu 74,2 tỷ USD của cả năm, bốn tháng còn lại cần đạt 24,9 tỷ USD, bình quân khoảng 6,23 tỷ USD mỗi tháng. Khối lượng công việc phía trước vì thế rất lớn, đòi hỏi sản xuất, chế biến, logistics, xúc tiến thương mại và thủ tục xuất khẩu phải vận hành đồng bộ.
Bộ yêu cầu theo dõi sát từng ngành hàng và từng thị trường, chủ động xử lý các rào cản liên quan đến kiểm dịch động vật, thực vật, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn môi trường. Với những thị trường còn dư địa, hoạt động xúc tiến cần đi cùng khả năng cung ứng ổn định. Với những thị trường đang gặp khó, cơ quan chuyên môn phải phối hợp cùng doanh nghiệp và hiệp hội ngành hàng nhận diện nguyên nhân, tìm giải pháp phù hợp thay vì chỉ đưa ra kiến nghị chung.
Từ góc độ sản xuất, mở cửa thị trường mới chỉ là bước đầu. Hàng hóa muốn đi được đường dài phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu của nước nhập khẩu trong suốt quá trình sản xuất, thu hoạch, sơ chế, đóng gói và vận chuyển. Mã số vùng trồng hay cơ sở đóng gói không thể được nhìn như một thủ tục hoàn thành một lần. Dữ liệu phải chính xác, điều kiện kỹ thuật phải được duy trì và việc giám sát sau cấp mã phải thực chất.
Thông điệp của lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường là đẩy nhanh tiến độ nhưng không hạ chuẩn chất lượng. Nếu chỉ rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ mà dữ liệu thiếu chính xác, chủ thể sản xuất không tuân thủ hoặc khâu giám sát bị buông lỏng, rủi ro không dừng ở một lô hàng. Những vi phạm riêng lẻ có thể ảnh hưởng đến nhiều doanh nghiệp, thậm chí làm suy giảm uy tín của cả ngành hàng trên thị trường quốc tế.
Đối thoại với doanh nghiệp, hiệp hội và địa phương vì thế là một phần của công tác điều hành. Những vấn đề thuộc thẩm quyền cần được xử lý ngay; nội dung cần phối hợp phải được xác định thành đầu việc cụ thể. Xúc tiến thương mại, tận dụng các hiệp định thương mại tự do, cải thiện logistics và tháo gỡ thủ tục xuất nhập khẩu chỉ đem lại hiệu quả khi mỗi cơ quan biết rõ phần việc của mình và chịu trách nhiệm về tiến độ.
Chuyển đổi số cũng được xác định là công cụ hỗ trợ quản lý sản xuất và thị trường. Dữ liệu về đất đai, vùng trồng, vật nuôi, mùa vụ, sản lượng và truy xuất nguồn gốc cần được làm sạch, chuẩn hóa và kết nối. Khi thông tin được cập nhật đầy đủ, cơ quan quản lý có thể theo dõi sát hơn diễn biến sản xuất, doanh nghiệp giảm thời gian kê khai, còn người dân có thêm cơ sở để tổ chức sản xuất theo yêu cầu của thị trường.
Dữ liệu chỉ có ý nghĩa khi có thể sử dụng lại, được xác thực và có đơn vị chịu trách nhiệm cập nhật. Chuyển đổi số vì thế phải góp phần rút ngắn quá trình giải quyết công việc, tăng tính minh bạch và nâng cao khả năng phản ứng trước biến động.
Bên cạnh sản xuất và thị trường, lãnh đạo Bộ yêu cầu tập trung xử lý các điểm nghẽn về đất đai, khoáng sản, tài nguyên nước và môi trường đang ảnh hưởng đến đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Quan điểm đặt ra là hồ sơ thuộc thẩm quyền phải được giải quyết đúng tiến độ, không để kéo dài làm chậm dự án; đồng thời việc tháo gỡ phải tuân thủ quy định, không đánh đổi tài nguyên và môi trường lấy kết quả trước mắt.
Yêu cầu đặt ra không chỉ là giải quyết từng hồ sơ, mà còn phải nhận diện nguyên nhân khiến vướng mắc lặp lại. Những nội dung thuộc thẩm quyền của đơn vị nào phải được xử lý tại đơn vị đó; vấn đề vượt thẩm quyền cần được tổng hợp rõ, kèm theo phương án đề xuất. Cách làm này giúp hạn chế tình trạng hồ sơ chuyển qua nhiều đầu mối, doanh nghiệp phải bổ sung thông tin nhiều lần nhưng vẫn không xác định được thời điểm hoàn thành.
Đầu tư công và các chương trình mục tiêu quốc gia cũng là những nhiệm vụ cần được đẩy nhanh. Lãnh đạo Bộ yêu cầu rà soát từng dự án, từng chủ đầu tư, xác định nguyên nhân chậm và xây dựng tiến độ thực hiện phù hợp. Việc thúc đẩy giải ngân phải gắn với chất lượng công trình, hiệu quả sử dụng vốn và trách nhiệm của người đứng đầu, tránh tâm lý dồn việc vào thời điểm cuối năm.
Một biến số lớn của chặng cuối năm là thiên tai. Bão, mưa lớn, lũ quét và sạt lở có thể tác động trực tiếp đến vùng sản xuất, hạ tầng thủy lợi, đê điều, hồ đập và đời sống người dân. Các đơn vị chuyên môn được yêu cầu theo dõi sát diễn biến thời tiết, cập nhật khu vực có nguy cơ, chuẩn bị phương án vận hành công trình, tiêu úng, bảo vệ cây trồng, vật nuôi và vùng nuôi thủy sản.
Trong lĩnh vực môi trường, trọng tâm là theo dõi, xử lý ô nhiễm không khí, nguồn nước, làng nghề và khu vực nông thôn; đồng thời nâng cao năng lực quan trắc, đánh giá và dự báo. Bảo vệ môi trường phải được thực hiện từ nguồn phát sinh, gắn với trách nhiệm của cơ sở sản xuất, khu dân cư và chính quyền địa phương. Đây không phải phần việc đứng ngoài mục tiêu tăng trưởng, mà là điều kiện để sản xuất duy trì ổn định và giảm những chi phí phải xử lý về sau.
Chặng cuối năm vì thế là phép thử đối với năng lực phối hợp của một bộ quản lý đa ngành. Từ sản xuất, thị trường đến đất đai, nước, khoáng sản, môi trường và dữ liệu, mỗi lĩnh vực đều có nhiệm vụ riêng nhưng cùng hướng tới mục tiêu hoàn thành cao nhất các công việc được giao. Điều lãnh đạo Bộ nhấn mạnh là tinh thần chủ động, trách nhiệm và xử lý công việc đến cùng, không để khó khăn tích tụ thành điểm nghẽn.
Quyết tâm về đích không chỉ thể hiện ở tiến độ hoàn thành nhiệm vụ, mà còn ở chất lượng của từng quyết định điều hành. Giữ được nhịp sản xuất, mở rộng thị trường, tháo gỡ đúng vướng mắc và bảo vệ tốt nông nghiệp, môi trường sẽ tạo nền tảng cho ngành Nông nghiệp và Môi trường bước sang giai đoạn tiếp theo với dư địa phát triển vững chắc hơn.