Ngày 22/9, Diễn đàn Khuyến nông Nông nghiệp với chủ đề “Giải pháp nhân rộng mô hình canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh” được tổ chức tại Nghệ An, do Trung tâm Khuyến nông Quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An thực hiện.
Trong bối cảnh khí hậu ngày càng biến đổi, yêu cầu đối với sản xuất nông nghiệp không chỉ dừng ở việc bảo đảm năng suất mà còn phải chú trọng đến bảo vệ môi trường và giảm phát thải. Diễn đàn “Giải pháp nhân rộng mô hình canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh” được tổ chức nhằm góp phần nâng cao nhận thức của người dân trong sản xuất. Đồng thời, đây cũng là dịp để các nhà quản lý, nhà khoa học, nông dân và doanh nghiệp trao đổi về những kết quả, kinh nghiệm sau quá trình triển khai thực tế. Ảnh: Bùi ÁnhTại diễn đàn, ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia cho rằng, môi trường đang chịu nhiều áp lực. Đối với sản xuất lúa, khi ruộng ở trong điều kiện ngập nước, quá trình phân hủy chất hữu cơ trong môi trường thiếu khí sẽ phát sinh các chất gây ô nhiễm. Trong khi đó, việc áp dụng các giải pháp để giảm phát thải không phải lúc nào cũng dễ dàng. Từ các nghiên cứu, ông Lê Quốc Thanh cho rằng ngành lúa gạo vẫn còn nhiều dư địa để giảm phát thải. Đồng thời, có thể áp dụng nhiều giải pháp để cây trồng vẫn đạt năng suất, nhưng giảm được lượng phát thải trong quá trình sản xuất. Ảnh: Bùi ÁnhTại tham luận “Báo cáo đề dẫn giải pháp nhân rộng mô hình canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh”, Tiến sĩ Phạm Thanh Thủy, chuyên viên Phòng Khuyến nông Trồng trọt và Lâm nghiệp, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia cho rằng: Trong sản xuất lúa, phát thải chủ yếu liên quan đến chế độ ngập nước trên ruộng, sử dụng phân bón và quản lý rơm rạ sau thu hoạch. Vì vậy, canh tác lúa phát thải thấp không phải là một kỹ thuật riêng lẻ mà là sự kết hợp đồng bộ giữa quản lý nước, sử dụng đầu vào hợp lý, cơ giới hóa, quản lý phụ phẩm, tổ chức sản xuất và liên kết tiêu thụ. Yêu cầu đặt ra là các giải pháp giảm phát thải phải đồng thời giúp người dân giảm chi phí, duy trì hoặc nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế thì mới có khả năng duy trì và nhân rộng. Ảnh: Bùi ÁnhBà Võ Thị Nhung, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Nghệ An, nhấn mạnh: Lúa được xác định là cây trồng chủ lực của tỉnh và được tỉnh Nghệ An quan tâm đẩy mạnh phát triển. Tỉnh có nhiều cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển sản xuất lúa gạo theo hướng tích tụ ruộng đất, sản xuất tập trung, ứng dụng cơ giới hóa đồng bộ, công nghệ cao và sản xuất theo tiêu chuẩn chất lượng cao, bền vững. Ảnh: Bùi ÁnhTrong tham luận “Đề án và kế hoạch hành động triển khai Đề án sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025 - 2035, tầm nhìn đến 2050” của ông Hoàng Anh Tuấn, Phó Trưởng phòng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, đã nêu 7 nhóm nhiệm vụ với 33 nội dung để triển khai Đề án, cụ thể: Hoàn thiện cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện Đề án; chuyển đổi cơ cấu cây trồng linh hoạt, phù hợp với đặc điểm từng vùng sinh thái và trình độ canh tác; phát triển, áp dụng các gói kỹ thuật trong sản xuất trồng trọt giảm phát thải; triển khai mô hình sản xuất trồng trọt giảm phát thải theo quy mô vùng và chuỗi giá trị; thiết lập, vận hành hệ thống đo lường - báo cáo - thẩm định (MRV) và cơ sở dữ liệu phát thải khí nhà kính; nâng cao năng lực, chuyển đổi nhận thức; kết nối thị trường cho các sản phẩm phát thải thấp. Ảnh: Bùi ÁnhBáo cáo Tham luận “Kinh nghiệm tổ chức sản xuất vùng nguyên liệu lúa theo chuỗi giá trị, gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm của ThaiBinh Seed, ông Đặng Cao Cường, Phó Tổng Giám đốc Sản xuất và Khoa học Công nghệ - Tập đoàn ThaiBinh Seed cho rằng: thực tiễn sản xuất hiện nay vẫn còn nhiều điểm nghẽn: Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, khó tổ chức đồng bộ; Liên kết giữa nông dân - hợp tác xã - doanh nghiệp chưa chặt chẽ; Sản xuất chưa gắn với tín hiệu thị trường, đầu ra thiếu ổn định; Quy trình canh tác chưa tối ưu, chi phí cao và phát thải còn lớn. Có thể nói, vấn đề không chỉ nằm ở kỹ thuật, mà nằm ở cách tổ chức sản xuất. Từ thực tiễn đó, ThaiBinh Seed xác định một hướng đi mang tính chiến lược: Không giải quyết từng khâu riêng lẻ, mà tổ chức lại toàn bộ sản xuất theo chuỗi giá trị, lấy vùng nguyên liệu tập trung làm nền tảng. Đây chính là điểm mấu chốt giúp chuyển từ sản xuất truyền thống sang sản xuất hàng hóa quy mô lớn, có kiểm soát và gắn với thị trường, đồng thời tạo điều kiện để áp dụng các giải pháp kỹ thuật giảm phát thải một cách hiệu quả và đồng bộ. Ảnh: Bùi Ánh
Từ thực tiễn triển khai cho thấy, nhân rộng canh tác lúa phát thải thấp không chỉ nhằm thực hiện các cam kết giảm phát thải mà trước hết phải hướng đến nâng cao hiệu quả sản xuất. Khi người dân giảm được chi phí, sử dụng hiệu quả nước và vật tư, duy trì năng suất, tận dụng phụ phẩm và tổ chức tốt đầu ra, giảm phát thải sẽ trở thành kết quả của quá trình đổi mới sản xuất. Đây cũng là hướng để hệ thống khuyến nông tiếp tục đồng hành với nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi sang nền nông nghiệp xanh, hiệu quả và bền vững.
Ngày nay, giảm phát thải khí nhà kính trong chăn nuôi không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc để Việt Nam hiện thực hóa cam kết đạt phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050. Là một trong những ngành phát thải lượng lớn khí nhà kính, chăn nuôi đang đứng trước áp lực phải chuyển đổi mạnh mẽ theo hướng xanh, tuần hoàn và bền vững. Để hiểu rõ hơn vấn đề này, phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với PGS, TS. Đinh Văn Dũng, Trưởng Khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông lâm (Đại học Huế).
Sau hơn ba thập kỷ tham gia Công ước Vienna và Nghị định thư Montreal, Việt Nam đang bước vào giai đoạn mới trong lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế về bảo vệ tầng ô-dôn và giảm phát thải khí nhà kính. Những yêu cầu về loại trừ dần các chất HCFC, giảm tiêu thụ HFC theo Bản sửa đổi Kigali không chỉ đòi hỏi chuyển đổi công nghệ mà còn đặt ra yêu cầu tăng cường năng lực quản lý, đào tạo nguồn nhân lực và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý, tổ chức quốc tế và cộng đồng doanh nghiệp.
Chuyến thăm, làm việc của Đoàn công tác Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tại làng nghề đúc đồng Trà Đông (xã Thiệu Trung, tỉnh Thanh Hóa) không chỉ là hoạt động tìm hiểu một sản phẩm OCOP 4 sao, mà còn mở ra nhiều góc nhìn về bảo tồn giá trị gốc của di sản văn hóa Đông Sơn, phát huy nghề thủ công truyền thống gắn với phát triển kinh tế nông thôn và du lịch làng nghề. Qua những chia sẻ của Nghệ nhân Nhân dân Nguyễn Bá Châu và Tiến sĩ Đào Xuân Hưng, hành trình hồi sinh nghề đúc đồng Trà Đông được nhìn nhận như một câu chuyện của văn hóa, khoa học và truyền thông.
Dù mang lại vận hội mới, kinh tế carbon đặt hơn 2.000 doanh nghiệp Việt trước áp lực sinh tồn khắt khe từ các quy định như CBAM. Thách thức này càng lớn khi thị trường thiếu hụt trầm trọng nguồn nhân lực xanh chất lượng cao để vận hành cuộc chơi.
Đoàn cán bộ, viên chức và người lao động Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã tổ chức chuyến tham quan một số điểm văn hóa, lịch sử, mô hình OCOP tại tỉnh Thanh Hóa.