news
Chính sách mới về đóng cửa mỏ khoáng sản: Không để lại “khoản nợ môi trường” sau khai thác

Chính sách mới về đóng cửa mỏ khoáng sản: Không để lại “khoản nợ môi trường” sau khai thác

Thứ tư, 24/6/2026, 07:22 (GMT+7)
logo Hoạt động khai thác khoáng sản không kết thúc khi những chuyến xe cuối cùng rời khỏi mỏ. Đằng sau mỗi dự án khai thác là yêu cầu phục hồi môi trường, bảo vệ tài nguyên còn lại, xử lý các nguy cơ mất an toàn và bàn giao đất đai để phục vụ các mục tiêu phát triển mới của địa phương. Đây cũng là một trong những nội dung được Luật Địa chất và Khoáng sản năm 2024 đặt ra nhằm chuyển từ tư duy quản lý hoạt động khai thác sang quản lý toàn bộ vòng đời dự án khoáng sản.

Để cụ thể hóa các quy định của Luật, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Văn bản hợp nhất số 64/VBHN-BNNMT hợp nhất Thông tư số 38/2025/TT-BNNMT và Thông tư số 04/2026/TT-BNNMT quy định nội dung đề án đóng cửa mỏ khoáng sản, phương án đóng cửa mỏ khoáng sản và hệ thống biểu mẫu phục vụ công tác đóng cửa mỏ.

Điểm đáng chú ý của văn bản không nằm ở các thủ tục hành chính đơn thuần mà ở việc thiết lập một cơ chế quản lý mới đối với trách nhiệm của doanh nghiệp sau khai thác, bảo đảm tài nguyên khoáng sản được quản lý xuyên suốt từ khi cấp phép đến khi kết thúc hoạt động khai thác.

mo-da-nui-dong-han-1733392363_1781752931.jpg
ảnh minh hoạ

Đóng cửa mỏ phải gắn với bảo vệ tài nguyên và trách nhiệm môi trường

Một trong những thay đổi quan trọng nhất của văn bản là quy định rõ mục tiêu của hoạt động đóng cửa mỏ.

Theo Điều 3, đề án đóng cửa mỏ phải xác định rõ mục đích đóng cửa mỏ, bao gồm bảo vệ phần tài nguyên khoáng sản chưa khai thác; xác định trữ lượng khoáng sản còn lại; cải tạo, phục hồi môi trường; bảo đảm an toàn khu vực khai thác và bàn giao đất cho địa phương quản lý hoặc sử dụng theo quy hoạch. Quy định này cho thấy đóng cửa mỏ không còn được hiểu là thủ tục hành chính để kết thúc giấy phép khai thác mà trở thành một nội dung quản lý tài nguyên sau khai thác.

Trên thực tế, nhiều khu vực khai thác sau khi doanh nghiệp kết thúc hoạt động vẫn còn tồn tại lượng tài nguyên chưa khai thác hết hoặc các công trình khai thác có nguy cơ gây mất an toàn cho cộng đồng. Vì vậy, việc yêu cầu xác định chính xác hiện trạng tài nguyên còn lại là cơ sở để cơ quan quản lý nhà nước tiếp tục bảo vệ nguồn tài nguyên quốc gia, ngăn chặn tình trạng khai thác trái phép hoặc thất thoát tài nguyên sau khi mỏ ngừng hoạt động.

Bên cạnh đó, đề án đóng cửa mỏ phải đánh giá đầy đủ hiện trạng khu vực khai thác, bao gồm diện tích sử dụng đất, hệ thống công trình mỏ, bãi thải, hồ chứa, công trình bảo vệ môi trường và các khu vực có nguy cơ ảnh hưởng đến cộng đồng dân cư xung quanh. Đây là cơ sở để xác định các hạng mục cần xử lý trước khi cơ quan quản lý xem xét quyết định đóng cửa mỏ.

Doanh nghiệp phải chứng minh đã hoàn thành nghĩa vụ phục hồi môi trường

Nếu như trước đây nhiều doanh nghiệp thường tập trung vào nghĩa vụ khai thác và nộp ngân sách thì nay trách nhiệm môi trường được đặt ngang với trách nhiệm khai thác tài nguyên.

Theo nội dung quy định tại Điều 4, đề án đóng cửa mỏ phải tổng hợp toàn bộ kết quả thực hiện công tác cải tạo, phục hồi môi trường trong suốt thời gian khai thác. Doanh nghiệp phải báo cáo cụ thể các hạng mục đã thực hiện theo báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc phương án cải tạo, phục hồi môi trường đã được phê duyệt.

Đặc biệt, hồ sơ đóng cửa mỏ phải đánh giá đầy đủ hiện trạng các moong khai thác, bãi thải, hệ thống thoát nước, công trình xử lý môi trường và các nguy cơ có thể phát sinh sau khi kết thúc khai thác.

Văn bản yêu cầu doanh nghiệp phải xác định và đề xuất giải pháp xử lý đối với các nguy cơ sụt lún, trượt lở, nứt gãy địa chất, thay đổi dòng chảy, thay đổi mực nước ngầm hoặc các nguy cơ mất an toàn khác có thể ảnh hưởng đến người dân và môi trường.

Đây được xem là một bước tiến quan trọng trong quản lý khoáng sản bởi trách nhiệm của doanh nghiệp không dừng lại ở việc khai thác đúng công suất hay nộp đủ nghĩa vụ tài chính mà còn phải bảo đảm khu vực mỏ sau khai thác không để lại các "di sản môi trường" cho địa phương.

Đối với những khu vực có nguy cơ mất an toàn cao, doanh nghiệp phải xây dựng phương án gia cố, san gạt, xử lý kỹ thuật hoặc các giải pháp bảo vệ khác trước khi hoàn thành thủ tục đóng cửa mỏ.

khai_thac_ks_f4670_1781753059.jpg
ảnh minh hoạ

Minh bạch toàn bộ vòng đời dự án khai thác

Một điểm mới đáng chú ý khác của văn bản là yêu cầu doanh nghiệp phải giải trình toàn bộ quá trình hoạt động của mỏ trước khi được xem xét đóng cửa.

Theo mẫu đề án đóng cửa mỏ ban hành kèm theo văn bản, doanh nghiệp phải tổng hợp đầy đủ sản lượng khai thác qua từng năm; khối lượng đất đá bóc; khối lượng đất đá thải; trữ lượng đã khai thác; trữ lượng còn lại; mức độ tổn thất tài nguyên; hệ số làm nghèo khoáng sản và các thay đổi trong công nghệ khai thác.

Doanh nghiệp đồng thời phải báo cáo kết quả thực hiện các nghĩa vụ tài chính liên quan đến khai thác khoáng sản cũng như các kết luận thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong suốt quá trình hoạt động.

Các nội dung này giúp cơ quan quản lý có đầy đủ dữ liệu để đánh giá hiệu quả khai thác tài nguyên, mức độ tuân thủ pháp luật và trách nhiệm của tổ chức khai thác trước khi quyết định đóng cửa mỏ.

Từ góc độ quản lý nhà nước, đây cũng là công cụ quan trọng để tăng cường trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp, hạn chế tình trạng kết thúc dự án khi vẫn còn tồn tại các nghĩa vụ chưa được thực hiện đầy đủ.

Gắn đóng cửa mỏ với phát triển bền vững sau khai thác

Một điểm đáng chú ý của văn bản là yêu cầu phương án đóng cửa mỏ phải gắn với định hướng sử dụng đất sau khai thác. Theo quy định, doanh nghiệp phải xác định rõ hiện trạng sử dụng đất, đề xuất mục đích sử dụng đất sau khai thác, các công trình được giữ lại hoặc tháo dỡ và cơ quan tiếp nhận quản lý sau khi hoàn thành đóng cửa mỏ.

Điều này phản ánh sự thay đổi trong tư duy quản lý khoáng sản. Đất đai sau khai thác không còn được nhìn nhận là phần diện tích kết thúc nhiệm vụ sản xuất mà phải được đưa trở lại phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, phục hồi sinh thái hoặc phát triển hạ tầng theo quy hoạch địa phương.

Đồng thời, văn bản cũng yêu cầu xác định cụ thể khối lượng công việc đóng cửa mỏ, tiến độ thực hiện, giải pháp kỹ thuật, nguồn kinh phí và trách nhiệm của các bên liên quan trong quá trình thực hiện.

Văn bản hợp nhất số 64/VBHN-BNNMT không đơn thuần là văn bản hướng dẫn thủ tục đóng cửa mỏ. Điểm cốt lõi của chính sách là hoàn thiện cơ chế quản lý trách nhiệm sau khai thác, bảo đảm doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về tài nguyên, môi trường và an toàn trước khi kết thúc dự án. Đây cũng là bước cụ thể hóa tinh thần của Luật Địa chất và Khoáng sản năm 2024 trong việc quản lý tài nguyên khoáng sản theo toàn bộ vòng đời dự án, hướng tới mục tiêu khai thác hiệu quả, sử dụng tiết kiệm tài nguyên và phát triển bền vững.

 

Hồng Minh