Chuyển đổi số là chìa khóa đưa nông nghiệp Việt Nam vươn tầm thế giới

Chuyển đổi số là chìa khóa đưa nông nghiệp Việt Nam vươn tầm thế giới

Thứ sáu, 31/7/2026, 08:07 (GMT+7)
logo Trong tiến trình hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu, việc đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia được xác định là bước đột phá chiến lược hàng đầu. Sự ra đời của Nghị quyết số 57-NQ/TW đã trở thành động lực mạnh mẽ, thúc đẩy quá trình cải cách toàn diện, minh bạch hóa chuỗi cung ứng và nâng cao hiệu quả quản lý môi trường, đặc biệt trong hai lĩnh vực then chốt là nông nghiệp và môi trường.

Chia sẻ rõ hơn về sức ảnh hưởng của Nghị quyết 57, các nhà đầu tư quốc tế đánh giá cao quyết tâm của Chính phủ Việt Nam trong việc xây dựng một nền kinh tế xanh, hiện đại và hội nhập sâu rộng.

Đồng hành cùng sự phát triển của Việt Nam nhiều năm qua, cộng đồng doanh nghiệp Hàn Quốc không chỉ coi đây là cơ hội nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh mà còn là nền tảng cốt lõi để thúc đẩy chuyển giao công nghệ cao và thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng.

Để có góc nhìn đa chiều, khách quan từ các nhà đầu tư nước ngoài, Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với ông Hong Sun – Chủ tịch danh dự Hiệp hội Doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam (KOCHAM) xung quanh những cơ hội, thách thức và giải pháp chiến lược nhằm chuyển đổi ngành nông nghiệp Việt Nam thành ngành kinh tế công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn.

PV: Thưa ông, cộng đồng doanh nghiệp nước ngoài đánh giá như thế nào về quyết tâm của Việt Nam trong việc ban hành, triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW, cũng như hiệu quả thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong hai lĩnh vực then chốt nông nghiệp và môi trường?

Ông Hong Sun: Cộng đồng doanh nghiệp Hàn Quốc và KOCHAM bày tỏ sự ấn tượng sâu sắc và niềm tin vững chắc trước quyết tâm mạnh mẽ cũng như tầm nhìn sâu rộng của Chính phủ Việt Nam khi xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là những bước đột phá chiến lược. Việc lựa chọn nông nghiệp và môi trường là hai lĩnh vực ưu tiên hàng đầu là một quyết định hết sức sáng suốt, có tầm nhìn vĩ mô và vô cùng kịp thời, phù hợp với xu thế ứng phó biến đổi khí hậu và chuyển dịch sang nền kinh tế xanh trên toàn cầu. Chúng tôi đánh giá cao việc ứng dụng công nghệ số đã và đang giúp minh bạch hóa chuỗi cung ứng nông nghiệp, đồng thời nâng cao năng lực của hệ thống giám sát môi trường theo thời gian thực, từ đó thúc đẩy quá trình cải cách toàn diện và tiến tới phát triển bền vững trong cả hai lĩnh vực then chốt này.

hong-sun_1785230977.jpg
Ông Hong Sun – Chủ tịch danh dự Hiệp hội Doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam (KOCHAM)

PV: Sau hơn 1,5 năm triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW, đâu là những kết quả cụ thể, thực chất nhất mà các doanh nghiệp FDI nhận thấy, và những kết quả này đã đáp ứng kỳ vọng của các nhà đầu tư quốc tế ra sao, thưa ông?

Ông Hong Sun: Sau hơn 1,5 năm triển khai Nghị quyết, chúng tôi đã chứng kiến những tiến bộ rất rõ rệt và thực chất trong việc trực tuyến hóa các thủ tục hành chính và xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu ngành. Tính minh bạch và khả năng dự báo trong quy trình cấp phép đã được nâng cao đáng kể so với trước đây, tạo dựng niềm tin vững chắc cho các doanh nghiệp FDI khi xây dựng kế hoạch đầu tư chuyên sâu và dài hạn tại Việt Nam. Việc từng bước hoàn thiện nền tảng thể chế cho ứng dụng công nghệ xanh và quản lý dữ liệu hiệu quả đang đáp ứng tốt kỳ vọng của các nhà đầu tư nước ngoài. Chúng tôi tin tưởng chắc chắn rằng những thay đổi tích cực này sẽ là đòn bẩy thu hút thêm nhiều dòng vốn đầu tư công nghệ cao vào Việt Nam trong thời gian tới.

PV: Theo ông, chuyển đổi số theo Nghị quyết 57-NQ/TW đóng vai trò như thế nào trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp hội nhập, kết nối và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế khắt khe (như Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon - CBAM của EU) cùng mục tiêu Net-Zero?

Ông Hong Sun: Việc cắt giảm phát thải hướng tới mục tiêu Net-Zero và vượt qua các rào cản môi trường toàn cầu (như Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon - CBAM của EU) đã trở thành xu thế tất yếu không thể đảo ngược. Chính sách thúc đẩy chuyển đổi số mạnh mẽ của Việt Nam không chỉ đơn thuần là cải cách hành chính nội bộ, mà còn là hạ tầng cốt lõi giúp chứng minh khả năng truy xuất nguồn gốc (Traceability) bảo chứng cho việc nông sản và sản phẩm Việt Nam được sản xuất đáp ứng hoàn toàn các tiêu chuẩn quốc tế. Khi dữ liệu môi trường được số hóa và quản lý quy trình sản xuất xanh đi vào nề nếp, đây sẽ là vũ khí cạnh tranh sắc bén, giúp các doanh nghiệp và người nông dân Việt Nam biến các quy định carbon nghiêm ngặt thành cơ hội tiên phong chiếm lĩnh thị trường quốc tế cao cấp.

PV: Nghị quyết 57-NQ/TW đang mở ra những cơ hội hợp tác mới nào giữa các doanh nghiệp nước ngoài (có thế mạnh về công nghệ và nguồn vốn) với các đối tác Việt Nam từ cấp Bộ, ngành, địa phương đến các hợp tác xã cũng như doanh nghiệp?

Ông Hong Sun: Sự kết hợp giữa năng lực công nghệ tiên tiến, nguồn vốn mạnh mẽ của các doanh nghiệp Hàn Quốc và hạ tầng nông nghiệp dồi dào của Việt Nam đang tạo ra một hệ sinh thái hợp tác vô cùng năng động và có giá trị gia tăng cao. Thay vì chỉ dừng lại ở mô hình hợp tác sơ chế đơn thuần hay canh tác truyền thống như trước đây, xu hướng hợp tác hiện nay đã mở rộng sang các lĩnh vực công nghệ sinh học và nông nghiệp tiên tiến, tiêu biểu như sản xuất phân bón hữu cơ (Organic Fertilizer), chế phẩm bổ sung thức ăn chăn nuôi công nghệ cao (High-tech Feed Additives) và đặc biệt là phân bón hữu cơ sinh học dạng lỏng (Liquid Organic Fertilizer). Các doanh nghiệp công nghệ nông nghiệp xanh của Hàn Quốc đang tích cực chuyển giao công nghệ, hợp tác chặt chẽ với các Bộ, ngành, địa phương và các hợp tác xã Việt Nam để cùng nhau phát triển bền vững.

PV: Từ thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp, Hiệp hội có những khuyến nghị gì gửi tới Chính phủ và các cơ quan quản lý chuyên trách nhằm tháo gỡ "điểm nghẽn" về hạ tầng số và duy trì tính đồng bộ trong thực thi ở cấp cơ sở (phường, xã)?

Ông Hong Sun: Để các mục tiêu vĩ mô của Nghị quyết 57 đi sâu vào đời sống thực tiễn của Việt Nam, việc cấp bách hiện nay là phải thu hẹp khoảng cách về hạ tầng số cũng như năng lực hành chính số giữa các Bộ, ngành Trung ương và các cơ quan chính quyền cấp cơ sở (phường, xã). Chúng tôi kiến nghị Chính phủ tăng cường đào tạo kỹ năng công nghệ cho đội ngũ cán bộ địa phương để đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống tích hợp. Đồng thời, cần xây dựng các quy trình cẩm nang chuẩn hóa, giúp việc phê duyệt các dự án đầu tư nông nghiệp công nghệ cao hay việc đưa các vật tư nông nghiệp xanh vào thực địa có thể được xử lý nhanh chóng theo cơ chế "một cửa" ngay tại cấp địa phương.

PV: Ông có thể chia sẻ một ví dụ cụ thể về câu chuyện thành công hoặc cải cách tích cực của một doanh nghiệp thành viên KOCHAM nhờ ứng dụng chuyển đổi số tại Việt Nam?

Ông Hong Sun: Trên thực tế, một doanh nghiệp thành viên của KOCHAM trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao gần đây đã sử dụng hệ thống Cơ chế một cửa quốc gia (National Single Window) để thực hiện các thủ tục nhập khẩu nguyên liệu thân thiện với môi trường và xin cấp giấy phép môi trường. Trước đây, quy trình nộp hồ sơ và thẩm định trực tiếp thường kéo dài từ vài tuần đến vài tháng, nhưng nhờ hệ thống trực tuyến chuẩn hóa, thủ tục đã được xử lý vô cùng nhanh chóng, giúp doanh nghiệp tiết kiệm được hơn 30% chi phí hành chính và thời gian chờ đợi. Những câu chuyện thành công như thế này là minh chứng rõ nét cho thấy cải cách hành chính số đang trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy các dòng vốn đầu tư nông nghiệp công nghệ cao vào Việt Nam.

PV: Để thúc đẩy ngành nông nghiệp Việt Nam chuyển dịch mạnh mẽ thành ngành nông nghiệp công nghệ cao và mang lại giá trị gia tăng lớn, ông có những đề xuất, khuyến nghị mang tính chiến lược nào ở cấp quốc gia?

Ông Hong Sun: Những hiện tượng tắc nghẽn cục bộ hay sự chậm trễ mang tính thủ tục giấy tờ tại một số cơ sở là điều có thể thấu hiểu, như những bước quá độ tất yếu trong một cuộc đại cách mạng chuyển đổi số. Tuy nhiên, để đưa nền nông nghiệp Việt Nam thực sự chuyển mình thành một nền "Nông nghiệp bền vững, Nông nghiệp xanh, Nông nghiệp công nghệ cao và Ngành công nghiệp mang lại giá trị gia tăng lớn", chúng ta cần nhìn thẳng vào một bài toán cốt lõi và cấp bách hơn, đó là:

Quỹ đất nông nghiệp của Việt Nam hiện đang đối mặt với thách thức nghiêm trọng khi độ phì nhiêu của đất bị suy giảm đáng kể và đất đai có xu hướng bạc màu do hệ quả của việc lạm dụng phân bón hóa học trong suốt nhiều thập kỷ qua. Để giải quyết triệt để bài toán này và phục hồi nhanh chóng hệ sinh thái đất, việc đưa các dòng phân bón hữu cơ chất lượng cao đặc biệt là phân bón hữu cơ sinh học dạng lỏng (Liquid Organic Fertilizer) ứng dụng công nghệ hiện đại của Hàn Quốc vào thực địa là vô cùng cấp thiết. Các sản phẩm phân bón hữu cơ lỏng này có khả năng kích hoạt hệ vi sinh vật có lợi, tái tạo đất một cách thần tốc, từ đó nâng cao tận gốc chất lượng và giá trị kinh tế của nông sản Việt Nam.

Việc chuyển đổi thành công sang mô hình nông nghiệp công nghệ cao không chỉ dừng lại ở câu chuyện thay đổi diện mạo một ngành công nghiệp, mà ý nghĩa nhân văn và kinh tế lớn lao hơn chính là nâng cao trực tiếp và thực chất thu nhập cho đại bộ phận người nông dân, tránh tình trạng phải ly nông, ly hương do đất đai suy thoái. Người nông dân vốn chiếm tỷ trọng rất lớn trong cơ cấu dân số; khi thu nhập của họ được cải thiện bền vững, sức mua của thị trường nội địa sẽ tăng trưởng mạnh mẽ, tạo ra động lực nội sinh to lớn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và hiện thực hóa các mục tiêu phát triển kinh tế vĩ mô của Chính phủ Việt Nam.

Dù vậy, việc lan tỏa các sản phẩm vật tư nông nghiệp xanh, công nghệ cao đến tận tay người nông dân không thể chỉ dựa vào nỗ lực đơn độc của các doanh nghiệp. Nhìn vào bài học thành công của Hàn Quốc và các cường quốc nông nghiệp tiên tiến khác, bệ đỡ quyết định cho cuộc chuyển dịch này luôn là chính sách hỗ trợ và khuyến khích cực kỳ mạnh mẽ từ phía Nhà nước.

Do đó, chúng tôi trân trọng kiến nghị Chính phủ Việt Nam chủ động đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền và đào tạo cho người nông dân về các dòng sản phẩm phân bón hữu cơ và chế phẩm sinh học tiên tiến của thế giới. Đồng thời, rất cần có sự đồng hành hỗ trợ thiết thực từ cấp Chính phủ thông qua các chính sách trợ giá, ưu đãi thuế cho các hộ nông nghiệp và các doanh nghiệp công nghệ đi đầu trong việc áp dụng vật tư nông nghiệp xanh.

Khi có sự cộng hưởng nhịp nhàng giữa quyết tâm chính sách của Chính phủ và giải pháp công nghệ cao toàn cầu ngay từ khâu vật tư đầu vào, Việt Nam chắc chắn sẽ sớm vươn mình trở thành một cường quốc nông nghiệp xanh, dẫn đầu thị trường quốc tế. KOCHAM cam kết sẽ luôn là người bạn đồng hành tin cậy và vững chắc nhất cùng Việt Nam trên hành trình vĩ đại này.

PV: Xin cảm ơn ông!

Văn Thanh