news

Dịch vụ công trực tuyến ngành Nông nghiệp và Môi trường, đã thuận tiện đến đâu?

Thứ ba, 13/1/2026, 07:56 (GMT+7)
logo Sau giai đoạn xây dựng, làm sạch và liên thông dữ liệu, năm 2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng khi dữ liệu đất đai bắt đầu đi vào trực tiếp quy trình giải quyết thủ tục hành chính của ngành Nông nghiệp và Môi trường. Dịch vụ công trực tuyến không còn dừng ở hạ tầng kỹ thuật, mà từng bước trở thành công cụ cải cách, tác động trực tiếp đến trải nghiệm của người dân và doanh nghiệp.

Kỳ 3: Khi dữ liệu đi vào phục vụ người dân và doanh nghiệp

Nếu Kỳ 2 của tuyến bài cho thấy quy mô và nỗ lực chưa từng có trong xây dựng, làm sạch và liên thông Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, thì câu hỏi đặt ra ở bước tiếp theo là: nguồn dữ liệu khổng lồ đó đã thực sự được đưa vào phục vụ người dân và doanh nghiệp thông qua dịch vụ công trực tuyến đến mức nào?.

Câu hỏi này không chỉ mang ý nghĩa kỹ thuật mà là thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả thực chất của chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Bởi lẽ, chuyển đổi số sẽ không thể thành công nếu dừng lại ở xây dựng hệ thống hay hoàn thành nhiệm vụ, mà phải được cảm nhận rõ ràng thông qua quy trình thủ tục hành chính đơn giản hơn, minh bạch hơn và thuận tiện hơn cho người dân, doanh nghiệp.

Theo Báo cáo Kết quả thực hiện công tác chuyển đổi số và triển khai thực hiện Đề án 06 của ngành Nông nghiệp và Môi trường tại Hội nghị Tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026 ngày 31/12/2025, năm 2025 là năm ngành Nông nghiệp và Môi trường triển khai đồng loạt nhiều nhiệm vụ trọng tâm nhằm đưa dữ liệu số, trong đó có dữ liệu đất đai vào trực tiếp quy trình giải quyết thủ tục hành chính, từng bước hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Chính phủ số.

140_1767932825.webp
Ảnh minh hoạ

Dịch vụ công trực tuyến, bước tiến về quy mô và phạm vi

Một trong những kết quả nổi bật được Báo cáo Kết quả thực hiện công tác chuyển đổi số và triển khai thực hiện Đề án 06 của ngành Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh là việc hoàn thành hợp nhất Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính ngành Nông nghiệp và Môi trường theo mô hình tập trung. Trên nền tảng này, trong năm 2025, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã cung cấp 277 dịch vụ công trực tuyến, bao gồm 96 dịch vụ công trực tuyến toàn trình và 181 dịch vụ công trực tuyến một phần, phục vụ 252 thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp Bộ.

Không dừng ở cấp Trung ương, hệ thống dịch vụ công trực tuyến của ngành còn được triển khai đồng bộ tới địa phương. Cụ thể, theo báo cáo, đã có 311 dịch vụ công trực tuyến được cung cấp cho 311 thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh, cùng với 57 dịch vụ công trực tuyến tương ứng 57 thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền cấp xã. Việc triển khai đồng thời ở cả 03 cấp hành chính - Bộ, tỉnh, xã cho thấy, nỗ lực xây dựng một hệ thống dịch vụ công trực tuyến thống nhất, liên thông trong toàn ngành.

Đáng chú ý, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính ngành nông nghiệp và môi trường đã được kết nối với các nền tảng số và cơ sở dữ liệu quan trọng, bao gồm Cổng Dịch vụ công quốc gia, nền tảng định danh và xác thực điện tử (VNeID), Cổng ký số (eSign), Cổng thanh toán trực tuyến và cơ sở dữ liệu doanh nghiệp. Đây là điều kiện kỹ thuật cần thiết để người dân và doanh nghiệp có thể thực hiện thủ tục hành chính trực tuyến, sử dụng một tài khoản định danh thống nhất và hạn chế việc nộp lại các giấy tờ đã có trong hệ thống dữ liệu nhà nước.

Cải cách thủ tục hành chính gắn với dữ liệu số

Bên cạnh việc mở rộng quy mô dịch vụ công trực tuyến, Báo cáo tại Hội nghị Tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026 ngày 31/12/2025 cho thấy, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tập trung mạnh vào cải cách thủ tục hành chính gắn với khai thác dữ liệu số. Trong năm 2025, Bộ đã hoàn thành rà soát, thay thế thành phần hồ sơ trong cấu trúc thủ tục hành chính bằng dữ liệu, đồng thời có văn bản báo cáo gửi Bộ Tư pháp về kết quả thực hiện nội dung này.

Trên cơ sở đó, Bộ đã rà soát, sửa đổi và ban hành 03 Nghị định, 18 Thông tư và 23 Quyết định của Bộ trưởng để quy định, công bố thủ tục hành chính; đồng thời ban hành 20 Quyết định quy định quy trình nội bộ giải quyết thủ tục hành chính. Việc hoàn thiện hệ thống văn bản này nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc khai thác dữ liệu từ các cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành, trong đó có dữ liệu đất đai, dữ liệu dân cư, dữ liệu doanh nghiệp, phục vụ giải quyết thủ tục hành chính theo phương thức điện tử.

Cũng theo Báo cáo tại Hội nghị, đến hết năm 2025, 100% kết quả giải quyết thủ tục hành chính của 256 thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ đã được cung cấp dưới dạng bản điện tử có ký số. Đây là bước tiến quan trọng, bởi kết quả điện tử không chỉ giúp giảm chi phí in ấn, lưu trữ, mà còn tạo điều kiện để tái sử dụng dữ liệu trong các quy trình xử lý tiếp theo, thay vì yêu cầu người dân, doanh nghiệp phải nộp lại hồ sơ giấy từ đầu.

datcds2ok_c99678b8a8_1767933216.webp
ảnh minh hoạ

Khi dữ liệu đất đai đi vào quy trình thủ tục

Một trong những thước đo quan trọng nhất của chuyển đổi số trong quản lý nhà nước là khả năng đưa dữ liệu vào trực tiếp quy trình giải quyết thủ tục hành chính, thay vì chỉ dừng lại ở việc xây dựng kho dữ liệu hay hệ thống công nghệ. Đối với ngành Nông nghiệp và Môi trường, nơi đất đai là lĩnh vực quản lý phức tạp, nhạy cảm và liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của người dân, doanh nghiệp, việc dữ liệu đất đai được khai thác trong giải quyết thủ tục hành chính mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Theo Báo cáo Kết quả thực hiện công tác chuyển đổi số và triển khai thực hiện Đề án 06 của ngành Nông nghiệp và Môi trường, năm 2025 đánh dấu bước chuyển rõ rệt từ giai đoạn “xây dựng dữ liệu” sang giai đoạn khai thác dữ liệu phục vụ cải cách thủ tục hành chính. Trên nền tảng Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai đã được làm sạch, chuẩn hóa và liên thông với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã từng bước đưa dữ liệu đất đai vào các khâu then chốt của quy trình thủ tục hành chính.

Trước hết, việc xác thực thông tin chủ sử dụng đất thông qua dữ liệu dân cư đã tạo điều kiện để giảm yêu cầu người dân phải cung cấp lại các giấy tờ chứng minh nhân thân trong nhiều thủ tục hành chính liên quan đến đất đai. Theo báo cáo, thông qua quá trình kết nối, đối soát dữ liệu giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đã có khoảng 21 triệu thửa đất được ký số, xác thực chủ sử dụng, và gần 19 triệu thửa đất tiếp tục được xác thực, bàn giao và đồng bộ theo kế hoạch. Đây là cơ sở quan trọng để thay thế dần việc kiểm tra thủ công bằng xác thực điện tử ngay trong quá trình xử lý hồ sơ.

Cùng với xác thực thông tin chủ sử dụng đất, dữ liệu đất đai đã được đưa vào khâu kiểm tra, đối chiếu thông tin pháp lý của thửa đất trong quy trình giải quyết thủ tục hành chính. Việc dữ liệu được ký số, chuẩn hóa giúp cán bộ xử lý hồ sơ có thể tra cứu, kiểm tra nhanh các thông tin về thửa đất trên hệ thống, hạn chế tình trạng hồ sơ bị trả lại do thiếu thông tin, sai lệch dữ liệu hoặc phải đối chiếu nhiều loại giấy tờ giấy như trước đây. Đây là bước tiến quan trọng trong việc rút ngắn thời gian xử lý và nâng cao tính minh bạch của thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai.

Đặc biệt, việc dữ liệu đất đai được tích hợp vào Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính ngành nông nghiệp và môi trường đã tạo ra sự thay đổi trong cách thức tổ chức quy trình xử lý hồ sơ. Theo báo cáo, trong năm 2025, Bộ đã hoàn thành hợp nhất hệ thống và cung cấp 277 dịch vụ công trực tuyến, trong đó có 96 dịch vụ công trực tuyến toàn trình, cho phép người dân, doanh nghiệp nộp hồ sơ, theo dõi tiến độ và nhận kết quả giải quyết thủ tục hoàn toàn trên môi trường điện tử. Việc kết nối hệ thống này với Cổng Dịch vụ công quốc gia, nền tảng định danh và xác thực điện tử (VNeID), Cổng ký số (eSign) và Cổng thanh toán trực tuyến đã tạo hành lang kỹ thuật để dữ liệu đất đai được khai thác xuyên suốt trong toàn bộ quy trình thủ tục, từ khâu tiếp nhận đến khâu trả kết quả.

Một bước tiến đáng chú ý khác là việc cung cấp 100% kết quả giải quyết thủ tục hành chính của 256 thủ tục thuộc thẩm quyền của Bộ dưới dạng bản điện tử có ký số. Kết quả điện tử không chỉ giúp người dân, doanh nghiệp thuận tiện hơn trong việc nhận và lưu trữ hồ sơ, mà còn tạo điều kiện để tái sử dụng dữ liệu trong các thủ tục tiếp theo. Thay vì yêu cầu người dân nộp lại hồ sơ giấy từ đầu, dữ liệu đã có thể được khai thác lại từ hệ thống, từng bước hiện thực hóa nguyên tắc “chỉ cung cấp thông tin một lần” trong giải quyết thủ tục hành chính.

Tuy nhiên, Báo cáo Kết quả thực hiện công tác chuyển đổi số và triển khai thực hiện Đề án 06 của ngành Nông nghiệp và Môi trường cũng thẳng thắn chỉ ra rằng, việc đưa dữ liệu đất đai vào quy trình thủ tục hành chính chưa đồng đều giữa các địa phương và các lĩnh vực. Tỷ lệ số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính để phục vụ tái sử dụng dữ liệu còn thấp, do khối lượng hồ sơ rất lớn, tính chất phức tạp của thủ tục trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, cũng như sự khác biệt về mức độ sẵn sàng dữ liệu giữa các địa phương. Điều này cho thấy, dù dữ liệu đã được xây dựng và liên thông, việc khai thác hiệu quả dữ liệu trong thực tiễn vẫn cần thêm thời gian và nỗ lực đồng bộ.

Dẫu vậy, có thể khẳng định rằng, năm 2025 đã đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc đưa dữ liệu đất đai từ trạng thái “có” sang trạng thái “được sử dụng” trong quy trình thủ tục hành chính. Đây là tiền đề để trong giai đoạn tiếp theo, khi dữ liệu tiếp tục được làm sạch, cập nhật và duy trì “sống”, chuyển đổi số trong lĩnh vực đất đai sẽ tạo ra những thay đổi rõ nét hơn về thời gian giải quyết thủ tục, chi phí tuân thủ và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp.

7-giai-phap-chuyen-doi-so-nong-nghiep_1767933565.webp
Khuyến khích người dân thay đổi thói quen ghi chép nhật ký canh tác và chăn nuôi sang ghi nhật ký trên thiết bị điện tử, thông qua việc tập huấn và hướng dẫn nông dân tham gia vào mô hình ghi nhật ký sản xuất

Từ nền tảng kỹ thuật đến cải cách thực chất

Dưới góc nhìn quản lý nhà nước, việc cung cấp hàng trăm dịch vụ công trực tuyến và hoàn thiện hệ thống kỹ thuật là điều kiện cần. Tuy nhiên, Báo cáo Kết quả thực hiện công tác chuyển đổi số và triển khai thực hiện Đề án 06 của ngành Nông nghiệp và Môi trường cho thấy một thực tế là mức độ sử dụng dịch vụ công trực tuyến của người dân và doanh nghiệp chưa tương xứng với quy mô đầu tư và triển khai.

Một trong những nguyên nhân được chỉ ra là đặc thù thủ tục hành chính trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường. Đây là lĩnh vực có phạm vi quản lý rộng, liên quan trực tiếp đến đất đai, tài nguyên, môi trường, những lĩnh vực đòi hỏi hồ sơ pháp lý phức tạp, nhiều loại giấy tờ, dữ liệu lịch sử dài và chịu tác động của lợi ích cục bộ. Trong bối cảnh dữ liệu chưa hoàn toàn “sống” và được cập nhật đồng bộ ở tất cả các địa phương, việc người dân vẫn phải bổ sung hồ sơ giấy trong một số trường hợp là khó tránh khỏi.

Bên cạnh đó, Báo cáo cũng chỉ ra yếu tố nhận thức và kỹ năng số của một bộ phận người sử dụng dịch vụ công trực tuyến còn chưa đồng đều. Một số đơn vị chưa thực sự quán triệt việc sử dụng dữ liệu và hệ thống thông tin trong công việc hằng ngày, dẫn đến dữ liệu chưa được cập nhật đầy đủ, ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác trong giải quyết thủ tục hành chính.

Dù còn những hạn chế, Báo cáo khẳng định rằng năm 2025 đã đặt nền móng quan trọng để dịch vụ công trực tuyến ngành nông nghiệp và môi trường chuyển từ giai đoạn triển khai kỹ thuật sang giai đoạn cải cách thực chất. Việc hoàn thành hợp nhất hệ thống, chuẩn hóa quy trình, cung cấp kết quả điện tử có ký số và kết nối với các nền tảng quốc gia cho thấy chuyển đổi số đã bắt đầu tác động trực tiếp đến cách thức vận hành của bộ máy hành chính.

Ở góc độ dài hạn, dữ liệu đất đai, khi được duy trì “sống”, cập nhật thường xuyên và khai thác hiệu quả sẽ trở thành nguồn dữ liệu nền tảng để tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp, đồng thời nâng cao tính minh bạch và khả năng giám sát trong quản lý nhà nước.

chuyen-doi-so-trong-nganh-nong-nghiep-2-1536x790_1767933388.webp
Ứng dụng công nghệ số trong sản xuất nông nghiệp: Dữ liệu được thu thập, phân tích và hiển thị trực quan trên nền tảng số, hỗ trợ người sản xuất theo dõi điều kiện canh tác và ra quyết định kịp thời.

Bài toán phía trước - từ “có dịch vụ” đến “dịch vụ thuận tiện”

Báo cáo cũng chỉ rõ, thách thức trong giai đoạn tiếp theo không nằm ở việc mở rộng thêm số lượng dịch vụ công trực tuyến, mà là nâng cao chất lượng và mức độ thuận tiện của dịch vụ. Điều này đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện dữ liệu nền tảng, đặc biệt là dữ liệu đất đai; đẩy mạnh tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ; đồng thời nâng cao năng lực, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ trong việc khai thác và sử dụng dữ liệu số.

Như vậy, dịch vụ công trực tuyến không chỉ là “cửa ngõ” để người dân nộp hồ sơ trực tuyến, mà phải trở thành công cụ cải cách hành chính thực chất, giúp rút ngắn thời gian xử lý, giảm giấy tờ, giảm chi phí và tăng mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp.

Từ câu chuyện dịch vụ công trực tuyến và trải nghiệm của người dân, doanh nghiệp, vấn đề đặt ra tiếp theo là: những điểm nghẽn nào đang cản trở chuyển đổi số đi vào chiều sâu, và ngành Nông nghiệp và Môi trường sẽ làm gì trong năm 2026 để tháo gỡ những điểm nghẽn đó?

Nội dung này sẽ được Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường phân tích trong Kỳ 4: “Chuyển đổi số không chỉ là công nghệ: bài toán thể chế, nhân lực và dữ liệu ‘sống’” - khép lại tuyến bài bằng những vấn đề chính sách và định hướng tương lai.

 

Hồng Minh