


Năm 2025 đánh dấu một cột mốc quan trọng cho ngành Nông nghiệp Việt Nam khi đạt mức tăng trưởng GDP cao nhất trong vòng một thập kỷ, với con số ấn tượng 4%. Đây không chỉ là một thành tựu về mặt kinh tế mà còn là minh chứng cho sự kiên cường và khả năng thích ứng của ngành trước những biến động toàn cầu và thách thức nội tại. Trong bối cảnh thiên tai liên tiếp và các rào cản thương mại ngày càng khắt khe, ngành nông nghiệp vẫn giữ vững vai trò là "trụ đỡ" của nền kinh tế, tạo tiền đề cho sự phát triển xanh và bền vững.
Theo dữ liệu mới nhất từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2025 chính thức đạt con số 70,63 tỷ USD, tăng 12% so với năm 2024. Đây là mức cao nhất từ trước đến nay, vượt xa mục tiêu 65 tỷ USD mà Chính phủ giao phó. Nông sản chủ lực: Đóng góp lớn nhất với khoảng 37,25 tỷ USD, tăng gần 14%. Thủy sản: Sau giai đoạn phục hồi, đã bứt phá đạt 11,3 tỷ USD, giữ vững vị trí thứ 3 thế giới về xuất khẩu thủy sản. Lâm sản: Đạt kỷ lục mới với 18,5 tỷ USD, tập trung vào các sản phẩm gỗ chế biến sâu và có chứng chỉ bền vững. Giá trị gia tăng khu vực nông, lâm, thủy sản ước tăng 3,7-3,92%, cơ bản đạt mục tiêu đề ra. Xuất siêu đạt khoảng 20,7 tỷ USD, tăng 16,8%.
Thành tích này không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn là lời khẳng định về chất lượng: Nông sản Việt đã có mặt tại hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, từng bước hiện thực hóa tầm nhìn biến Việt Nam thành "căn bếp của thế giới". Năm 2025 chứng kiến sự thăng hoa của các mặt hàng "tỷ đô", trong đó nổi bật nhất là cà phê, rau quả và gạo.


Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng phát biểu tại Hội nghị Tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026 ngành Nông nghiệp và Môi trường, ngày 31 tháng 12 năm 2025.

THÀNH CÔNG CỦA NĂM 2025 ĐẾN TỪ THAY ĐỔI TƯ DUY “SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP” SANG “KINH TẾ NÔNG NGHIỆP”
Điểm khác biệt của năm 2025 là sự chuyển dịch mạnh mẽ từ xuất khẩu thô sang chế biến sâu. Thay vì chỉ bán hạt, Việt Nam đã đẩy mạnh xuất khẩu cà phê hòa tan, cà phê rang xay thương hiệu Việt sang các thị trường khó tính như EU và Nhật Bản. Rau quả: "Cú hích" từ sầu riêng và dừa, ngành rau quả đạt kỷ lục 8,56 tỷ USD. Sầu riêng tiếp tục là "trái cây vàng" khi các nghị định thư về sầu riêng đông lạnh sang Trung Quốc được thực thi hoàn toàn. Bên cạnh đó, việc mở cửa thị trường Mỹ và EU cho dừa tươi và các sản phẩm từ dừa đã tạo nên một làn sóng tăng trưởng mới.
Xuất khẩu rau quả sang EU tăng trưởng đột phá (hơn 40%) nhờ tận dụng tốt hiệp định EVFTA. Gạo: Khẳng định thương hiệu gạo ngon nhất thế giới. Dù diện tích canh tác không tăng, nhưng giá trị xuất khẩu gạo đạt trên 5 tỷ USD. Chiến lược tập trung vào các giống gạo chất lượng cao, gạo thơm và gạo phát thải thấp (thuộc đề án 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao) đã giúp gạo Việt Nam duy trì mức giá xuất khẩu cao nhất thế giới, vượt qua các đối thủ cạnh tranh truyền thống.
ĐA DẠNG HÓA VÀ THÍCH ỨNG VỚI SỰ THAY ĐỔI BẢN ĐỒ THỊ TRƯỜNG
Năm 2025, Việt Nam đã thành công trong việc không "bỏ trứng vào một giỏ". Châu Á (thị phần 43%): Trung Quốc vẫn là thị trường lớn nhất nhưng đã chuyển dịch sang nhập khẩu chính ngạch với các tiêu chuẩn khắt khe về mã số vùng trồng và truy xuất nguồn gốc. Châu Mỹ (thị phần 22%): Hoa Kỳ duy trì sức mua lớn đối với thủy sản và hạt điều. Châu Âu (tăng trưởng 38%): Đây là thị trường bùng nổ nhất năm 2025. Việc đáp ứng quy định chống phá rừng của EU (EUDR) đã giúp gỗ và cà phê Việt Nam chiếm lĩnh thị phần tuyệt đối tại khu vực này. Kết quả này có được nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Ngoại giao, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các địa phương, trong đó có các chương trình xúc tiến thương mại quy mô lớn tại Brussels.
Về truy xuất nguồn gốc: 100% các lô hàng xuất khẩu sang các thị trường lớn đều được gắn mã QR, minh bạch hóa toàn bộ quá trình từ trang trại đến bàn ăn. Nông nghiệp xanh: Việc thực hành sản xuất giảm phát thải carbon không còn là khẩu hiệu mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc. Các lô hàng gạo, cà phê có "tín chỉ carbon" đầu tiên đã được xuất khẩu với mức giá ưu đãi, mở ra một nguồn thu mới cho người nông dân.



Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến thông tin tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường ngày 05/02/2026, năm 2025 ghi nhận sự chuyển dịch rõ rệt về cơ cấu thị trường xuất khẩu. Điểm tích cực là người dân, doanh nghiệp và các cơ chế chính sách đã được tháo gỡ kịp thời để thích ứng với tình hình mới.
Hiện nay, thị trường Trung Quốc chiếm khoảng 22,6% tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản. Diễn biến xuất khẩu theo từng tháng cho thấy nhiều thời điểm ngành phải đối mặt với không ít lo lắng. Cụ thể, tháng 9/2025, kim ngạch xuất khẩu đạt 6,25 tỷ USD, tạo tâm lý rất phấn khởi và kỳ vọng sớm cán mốc 70 tỷ USD. Tuy nhiên, sang tháng 10, kim ngạch giảm còn 5,95 tỷ USD, tháng 11 tiếp tục giảm xuống 5,8 tỷ USD.
“Thời điểm đó, chúng tôi thực sự lo lắng”, Thứ trưởng chia sẻ. Rất may, tình hình đã phục hồi nhanh, đặc biệt tại khu vực biên giới. Hoạt động thông quan dần trở lại bình thường, kim ngạch tháng 12 đạt trên 6,2 tỷ USD, đưa tổng kim ngạch cả năm vượt con số 70 tỷ USD.
Theo Thứ trưởng, việc nắm chắc cơ cấu thị trường là yếu tố then chốt để các đơn vị xuất khẩu chủ động chuyển đổi, thích ứng, hướng tới mục tiêu 74 tỷ USD trong thời gian tới.


Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến chủ trì cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường ngày 05/02/2026 và trả lời câu hỏi của các phóng viên.

CHĂN NUÔI, THỦY SẢN VÀ LÂM NGHIỆP TIẾP TỤC ĐƯỢC CƠ CẤU LẠI
Theo Thứ trưởng Phùng Đức Tiến, trong cơ cấu ngành, Chăn nuôi tiếp tục là một cực tăng trưởng quan trọng, chiếm khoảng 25-26% giá trị sản xuất. Năm 2025, dù chịu tác động nặng nề của dịch tả lợn châu Phi, làm mất khoảng 1,1 triệu con, ngoài ra cũng có trên 1 triệu con bị mất cùng với thiên tai, bão lũ… Tuy nhiên toàn ngành vẫn đạt 8,68 triệu tấn thịt các loại; 1,3 triệu tấn sữa; 21,4 tỷ quả trứng. Đàn lợn hiện khoảng 31 triệu con, tăng 2,7%. Giá lợn hơi dao động 65.000-70.000 đồng/kg, được đánh giá là mức hợp lý và bền vững. “Giá tăng quá cao sẽ gây hệ lụy, giảm quá sâu thì người chăn nuôi không trụ được, vì vậy vai trò điều tiết của Nhà nước là rất cần thiết”, Thứ trưởng nói.
Về Thủy sản, sản lượng năm 2025 đạt khoảng 65,9 triệu tấn, tăng 1,2%. Ngành tiếp tục tái cơ cấu theo hướng giảm khai thác, tăng nuôi trồng, đặc biệt là nuôi biển, gắn với các quy hoạch hạ tầng và Nghị định liên quan. Cá tra, rô phi tiếp tục là đối tượng xuất khẩu chủ lực. Khai thác thủy sản được định hướng giảm xuống khoảng 2,8 triệu tấn, đồng thời giám sát chặt chẽ đội tàu khoảng 79.000 chiếc, chuẩn bị cho đợt thanh tra EC lần thứ 5.



Đối với Lâm nghiệp, Thứ trưởng lưu ý cần rà soát lại công tác thống kê, nhất là với gỗ nhỏ và củi. Nếu tính đúng, sản lượng phải trên 2 triệu m³, thay vì 1,2 triệu m³ như một số báo cáo.
Ngành Nông nghiệp hiện chiếm khoảng 10% GDP, gắn với khoảng 60% dân cư sinh sống ở khu vực nông thôn. Với quy mô đó nhưng vẫn tạo ra thặng dư thương mại lớn, nông nghiệp tiếp tục được khẳng định là trụ đỡ vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Đánh giá này cũng đã được Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nêu rõ tại Hội nghị tổng kết của Bộ Nông nghiệp và Môi trường ngày 31/12/2025.




ƯU TIÊN THÁO GỠ KHÓ KHĂN, LOẠI BỎ CÁC RÀO CẢN, KHƠI THÔNG CÁC ĐIỂM NGHẼN VỀ THỂ CHẾ
Ngày 06/02/2026, thực hiện các Nghị quyết số 01/NQ-CP và số 02/NQ-CP ngày 08/01/2026 của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị triển khai Chương trình hành động của Bộ nhằm quán triệt và triển khai các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026; cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Bộ trưởng Trần Đức Thắng và các đồng chí Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì Hội nghị.
Trước đó, ngày 23 tháng 01 năm 2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Chương trình công tác năm 2026, đặc biệt yêu cầu Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Chương trình công tác; tập trung nguồn lực, lập kế hoạch và triển khai xây dựng các đề án. Đồng thời, ngày 20/01/2026 đã Ban hành Chương trình hành động của Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, năm 2026 là năm thứ 4 thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa XIII) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đất nước bước vào Kỷ nguyên “Vươn mình, thịnh vượng, giàu mạnh của dân tộc” và là năm đầu tiên triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2026 - 2030, phấn đấu tăng trưởng 2 con số, trong điều kiện chính quyền địa phương 2 cấp năng động, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, gần dân; toàn ngành NN&MT tập trung triển khai quyết liệt các kế hoạch thực hiện chiến lược phát triển, kế hoạch cơ cấu lại ngành, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, xây dựng nông thôn mới hiện đại, quản lý hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Năm 2026 được dự báo với những thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen, việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và của ngành Nông nghiệp và Môi trường vẫn là yêu cầu cấp thiết để củng cố niềm tin, tạo động lực mới cho doanh nghiệp, doanh nhân. Điều này đòi hỏi sự tiếp tục vào cuộc mạnh mẽ, thực chất và quyết liệt của các cơ quan, đơn vị; xác định cải cách, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, cần ưu tiên tập trung để tháo gỡ khó khăn, loại bỏ các rào cản, khơi thông các điểm nghẽn về thể chế và thực thi, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh lành mạnh, bình đẳng để cùng phát triển cho tất cả các thành phần kinh tế.


TẬP TRUNG CHỈ ĐẠO ĐIỀU HÀNH 9 NỘI DUNG TRỌNG TÂM, QUYẾT TÂM HOÀN THÀNH 3 MỤC TIÊU LỚN
Với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự quyết liệt, chủ động, linh hoạt, sáng tạo, thống nhất trong điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các cấp, các ngành, các địa phương; sự tin tưởng, đồng tình, ủng hộ, chia sẻ của nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp; sự quan tâm, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, Bộ NN&MT lãnh đạo, chỉ đạo toàn ngành NN&MT bám sát mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08 tháng 01 năm 2026 của Chính phủ, phát huy sức mạnh đoàn kết, tinh thần đổi mới, không ngừng nỗ lực sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, tự tin, tự lực, tự cường, tự chủ chiến lược, “xoay chuyển tình thế, chuyển đổi trạng thái”, quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt theo chủ đề “Kỷ cương trách nhiệm; chủ động hiệu quả; đổi mới sáng tạo; tăng tốc đột phá; tăng trưởng bền vững” và Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 08 tháng 01 năm 2026 của Chính phủ, tạo ra sự khác biệt rõ rệt và nhất quán, phù hợp với xu thế phát triển mới với phương châm “thể chế thông thoáng, hạ tầng thông suốt, quản trị thông minh, cách làm thông dụng” với 9 quan điểm, trọng tâm chỉ đạo điều hành sau:
Quán triệt và thực hiện nghiêm các nghị quyết của Đảng, Quốc hội, nhất là Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, với tinh thần “Đảng đã chỉ đạo, Chính phủ đã thống nhất, Quốc hội đồng tình, Nhân dân ủng hộ, Tổ quốc mong đợi, bạn bè giúp đỡ thì chỉ bàn làm, không bàn lùi”.
Giữ đà, giữ nhịp và tăng tốc, bứt phá; bám sát thực tiễn, nhận diện và phát huy hiệu quả mọi cơ hội, thuận lợi; kịp thời ứng phó với những vấn đề phát sinh.
Đổi mới căn bản tư duy phát triển, phương thức quản trị và phân bổ nguồn lực; giải quyết hiệu quả các vấn đề trước mắt để tạo đà tăng trưởng, thực hiện các cải cách chiến lược, dài hạn để chuyển đổi mô hình phát triển, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm động lực chính. Phát triển các thành phần kinh tế, kết hợp hiệu quả các nguồn lực cho phát triển.
Siết chặt kỷ luật, kỷ cương; tiếp tục đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển đất nước gắn với phân cấp, phân quyền; tăng cường giám sát, kiểm tra, đôn đốc, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc. Tiếp tục đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí.
Phát triển kinh tế, xã hội là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hóa là nền tảng, bảo đảm quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại là trọng yếu, thường xuyên.
Chuyển đổi tư duy trong công tác xây dựng pháp luật từ “quản lý” sang “kiến tạo, phát triển”, lấy người dân, doanh nghiệp là đối tượng phục vụ; nâng cao chất lượng xây dựng, tham mưu, ban hành văn bản pháp luật, sửa đổi đồng bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để tháo gỡ triệt để các “điểm nghẽn”, khuyến khích doanh nghiệp phát triển trong các lĩnh vực ưu tiên, bảo đảm nguyên tắc doanh nghiệp được làm những gì luật pháp không cấm, khuyến khích và bảo vệ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, minh bạch và bảo vệ quyền kinh doanh, quyền tài sản của doanh nghiệp. Mạnh dạn đề xuất, ban hành các cơ chế, chính sách đột phá nhằm khơi thông mọi nguồn lực, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi nhất để phát triển các doanh nghiệp Việt Nam, đưa thể chế từ “điểm nghẽn của điểm nghẽn” thành “lợi thế cạnh tranh quốc gia” và động lực mạnh mẽ cho phát triển đất nước.
Đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hiện phân cấp, phân quyền triệt để gắn liền với cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ. Tăng cường công khai, minh bạch, nâng cao tính tự chủ và đề cao trách nhiệm giải trình nhằm phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Đặc biệt, chuyển mạnh mẽ từ tư duy “quản lý” sang “kiến tạo và phục vụ”, thay thế phương thức “tiền kiểm” bằng “hậu kiểm” dựa trên hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn rõ ràng. Đồng thời bảo đảm phân công, phân cấp, phân nhiệm rõ ràng giữa các cấp, ngành và trong từng cơ quan, đơn vị theo tiêu chí “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền, nhằm đạt được mục tiêu “3 dễ”: dễ triển khai thực hiện, dễ kiểm tra và dễ đánh giá.
Đề cao trách nhiệm người đứng đầu trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính và xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành hiệu quả, thực chất trên tinh thần “3 có” và “2 không”.
Kết nối và huy động một cách tích cực sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp và chuyên gia trong đóng góp ý tưởng, sáng kiến nhằm hoạch định, thực thi, đánh giá độc lập, khách quan đối với kết quả cải cách, cải thiện môi trường kinh doanh.



Năm 2026, toàn ngành Nông nghiệp và Môi trường quyết tâm mạnh mẽ để thực hiện 3 Mục tiêu chung, đó là:
Nông nghiệp phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả, trách nhiệm theo hướng “Nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh”. Phát triển sản xuất nông lâm thủy sản hàng hóa tích hợp đa giá trị, dựa trên lợi thế địa phương, theo hướng hiện đại có năng suất, chất lượng, hiệu quả, bền vững và sức cạnh tranh cao, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực, an ninh dinh dưỡng. Nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc sống, vai trò và vị thế của người tham gia sản xuất nông nghiệp; tạo việc làm phi nông nghiệp để phát triển sinh kế đa dạng, giảm nghèo bền vững cho người dân nông thôn. Phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới theo hướng nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn minh.
Phát huy tối đa hiệu quả của các nguồn lực tài nguyên thiên nhiên phục vụ phát triển kinh tế xã hội, phát triển Ngành; sử dụng hợp lý và hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Kiểm soát mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học; bảo đảm chất lượng môi trường sống, duy trì cân bằng hệ sinh thái; bảo tồn, sử dụng bền vững đất ngập nước, bảo vệ các vùng đất ngập nước quan trọng, từng bước xây dựng nền kinh tế xanh, thân thiện với môi trường. Chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, tăng cường năng lực phòng, chống thiên tai, giảm phát thải khí nhà kính; đẩy mạnh chuyển biến căn bản trong khai thác, quản lý, sử dụng tài nguyên, đất đai, khoáng sản theo hướng tiết kiệm, hợp lý, hiệu quả và bền vững.
Tiếp tục cải thiện mạnh mẽ chất lượng môi trường đầu tư, kinh doanh phù hợp với bối cảnh trong nước và xu thế phát triển nhằm nâng cao vị thế của nước ta trên các bảng xếp hạng quốc tế. Tạo môi trường đầu tư, kinh doanh cạnh tranh lành mạnh bảo đảm công khai, minh bạch, ổn định, giảm chi phí tuân thủ, phù hợp với thông lệ quốc tế, khuyến khích đổi mới, sáng tạo, giải phóng sức sản xuất, huy động mọi nguồn lực và tạo động lực mới cho phát triển, cụ thể là:
- Tập trung hoàn thành các nhiệm vụ, giải pháp đã được giao tại các văn bản, Nghị quyết đột phá của Đảng và Nhà nước trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước, đổi mới xây dựng, thi hành pháp luật và hội nhập quốc tế trong tình hình mới:
+ Phấn đấu trong năm 2026, thứ hạng năng lực cạnh tranh theo khung đánh giá của quốc tế: Quyền tài sản (IPRI) của Liên minh Quyền tài sản (PRA) tăng ít nhất 3 bậc so với kỳ xếp hạng trước.
+ Cải thiện các chỉ số phản ánh cảm nhận của người dân, doanh nghiệp đối với hoạt động của chính quyền các cấp liên quan đến môi trường đầu tư kinh doanh trong nước: (i) Chỉ số cải cách hành chính (PAR index): Chỉ số cải cách hành chính của các bộ, cơ quan ngang bộ bình quân của cả nước đạt 84,7%; (ii) Chỉ số sự hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS): Giá trị trung bình cả nước đạt 86%.
- Tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm tăng nhanh về số lượng doanh nghiệp gia nhập thị trường và tái gia nhập thị trường; giảm tỷ lệ doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường (tạm ngừng hoạt động hoặc phá sản, giải thể).
Cùng với đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã đề ra 8 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026.


Thực hiện: CHU HỒNG CHÂU