Nghị quyết 66.19/2026/NQ-CP đã cắt giảm, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh của 11 lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Cụ thể, Nghị quyết cắt giảm, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh của 11 lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường gồm: trồng trọt và bảo vệ thực vật; chăn nuôi và thú y; thủy sản và kiểm ngư; thủy lợi; quản lý đê điều và phòng, chống thiên tai; đất đai; tài nguyên nước; địa chất và khoáng sản; môi trường; khí tượng thủy văn; quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo.
Một trong những nội dung đáng chú ý tại Nghị quyết là việc cắt giảm hàng loạt thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai. Theo đó, Nghị quyết quy định không thực hiện thủ tục hành chính cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai; không thực hiện điều kiện kinh doanh đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ xác định giá đất theo quy định của Luật Đất đai và các nghị định liên quan.
Việc cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai được thực hiện theo quy định tại Luật Tiếp cận thông tin và Thông tư số 56/2024/TT-BTC về quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí khai thác và sử dụng tài liệu đất đai từ Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai.
Đối với lĩnh vực môi trường, Chính phủ quyết định không thực hiện thủ tục hành chính cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường và thủ tục điều chỉnh nội dung Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường. Đồng thời, bãi bỏ thủ tục thẩm định phương án cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản ở cả cấp trung ương và cấp tỉnh.
Cùng với đó, các thủ tục hành chính khác cũng bị cắt giảm như thủ tục cấp lại giấy phép môi trường, cung cấp thông tin môi trường, cấp đổi quyết định chứng nhận Nhãn sinh thái Việt Nam. Nghị quyết cũng đơn giản hóa các quy định về đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường, đối tượng phải có giấy phép môi trường và đối tượng thực hiện chứng nhận Nhãn sinh thái Việt Nam đối với trường hợp không đăng ký hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước.
Trong lĩnh vực này, Chính phủ cũng đẩy mạnh phân quyền cho địa phương. Theo đó, Chủ tịch UBND cấp tỉnh được phân quyền thực hiện một phần thẩm quyền thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường và cấp giấy phép môi trường vốn trước đây thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Đồng thời, việc thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường cũng được Chính phủ phân quyền cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh thực hiện.
Một nội dung đáng chú ý khác là việc cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo. Theo đó, Chính phủ quy định không thực hiện thủ tục gia hạn Giấy phép nhận chìm ở biển, cả ở cấp trung ương và cấp tỉnh.
Cùng với đó thủ tục gia hạn Quyết định cấp phép nghiên cứu khoa học cũng được bãi bỏ. Thay vào đó, trong trường hợp thời hạn của Quyết định cấp phép nghiên cứu khoa học không đủ để hoàn thành các hoạt động nghiên cứu đã được cấp phép, tổ chức, cá nhân nước ngoài có nhu cầu tiếp tục thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học thì nộp hồ sơ đề nghị sửa đổi, bổ sung Quyết định cấp phép nghiên cứu khoa học chậm nhất 60 ngày trước ngày Quyết định cấp phép hết thời hạn.
Trên cơ sở đó, cơ quan có thẩm quyền xem xét việc sửa đổi, bổ sung về thời hạn Quyết định cấp phép nghiên cứu khoa học cho tổ chức, cá nhân nước ngoài không quá 01 năm theo trình tự, thủ tục sửa đổi, bổ sung Quyết định nghiên cứu khoa học quy định tại Nghị định số 41/2016/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 44/2026/NĐ-CP. Trường hợp tổ chức, cá nhân nước ngoài đã nộp hồ sơ đề nghị gia hạn Quyết định cấp phép nghiên cứu khoa học trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực thì cơ quan giải quyết hồ sơ thực hiện trình tự, thủ tục sửa đổi, bổ sung Quyết định cấp phép nghiên cứu khoa học.
Nghị quyết yêu cầu các bộ, ngành liên quan khẩn trương rà soát, sửa đổi hoặc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để triển khai các nội dung cải cách, bảo đảm hoàn thành trước ngày 01/3/2027. UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện tại địa phương và công bố thủ tục hành chính theo quy định.
Trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày Nghị quyết có hiệu lực, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phải hoàn tất việc chuyển giao hồ sơ thủ tục hành chính cho các cơ quan, đơn vị được phân quyền tiếp nhận và giải quyết.
Về hiệu lực, Nghị quyết 66.19/2026/NQ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 18/5/2026 đến hết ngày 28/2/2027. Riêng một số nội dung tại các phụ lục liên quan đến đất đai, môi trường, tài nguyên nước, khoáng sản và thủy sản sẽ có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
Trong thời gian Nghị quyết còn hiệu lực, nếu quy định về thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh tại Nghị quyết này khác với các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành thì áp dụng theo Nghị quyết. Trường hợp các luật, nghị định, thông tư mới được ban hành trong giai đoạn từ nay đến hết ngày 28/2/2027 thì các nội dung tương ứng trong Nghị quyết sẽ tự động hết hiệu lực kể từ thời điểm văn bản mới có hiệu lực.