Ngày 4/8, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị triển khai Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính đối với mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói.
Nghị quyết này điều chỉnh, bổ sung một số quy định về nguyên tắc, hồ sơ, trình tự, thẩm quyền cấp, quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói tại Nghị định số 38/2026/NĐ-CP ngày 24/1/2026 của Chính phủ quy định về nhập khẩu cây mang theo bầu đất và mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói (Nghị định số 38/2026/NĐ-CP) để đơn giản hóa thủ tục hành chính cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.
Phát biểu mở đầu hội nghị, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết, Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP được Chính phủ ban hành nhằm kịp thời tháo gỡ những bất cập trong quản lý mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói.
“Nghị quyết tập trung vào 2 mục tiêu chính là đơn giản hóa thủ tục hành chính và tạo môi trường thuận lợi hơn cho hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Song song với đó, Chính phủ cũng giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Bộ Tư pháp và các bộ, ngành, địa phương khẩn trương sửa đổi Nghị định số 38 để hoàn thiện khung pháp lý”, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp thông tin.
Theo Thứ trưởng, trước khi tham mưu ban hành Nghị quyết số 36, Bộ đã phối hợp chặt chẽ với các địa phương, hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp, trực tiếp khảo sát tại nhiều tỉnh Tây Nguyên, làm việc với các vùng trồng, cửa khẩu xuất khẩu sầu riêng và nhiều mặt hàng nông sản khác để lắng nghe ý kiến của nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và các cơ quan liên quan.
“Mục tiêu cuối cùng của Nghị quyết là nâng cao sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam, xây dựng thương hiệu chung cho nông sản Việt, đồng thời tạo môi trường hành chính minh bạch, thông thoáng hơn cho người dân và doanh nghiệp”, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường khẳng định. Ông Huỳnh Tấn Đạt, Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ NN&MT) cho hay, các thị trường nhập khẩu áp dụng 2 cơ chế công nhận mã số vùng trồng: trực tiếp phê duyệt và chấp nhận danh sách do Việt Nam gửi.
Tại hội nghị, Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Huỳnh Tấn Đạt nhấn mạnh: "Mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu là yêu cầu gắn với quy định kiểm dịch thực vật và điều kiện nhập khẩu của từng quốc gia".Việc mã số đó có được sử dụng để xuất khẩu hay không còn phụ thuộc vào quy định và cơ chế công nhận của từng thị trường, Cục trưởng Huỳnh Tấn Đạt nêu rõ.
Với một số thị trường, cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu trực tiếp xem xét, phê duyệt hoặc công nhận mã số vùng trồng do Việt Nam đề xuất. Danh sách này gồm những thị trường lớn như Trung Quốc, Hoa Kỳ, Malaysia, Đài Loan (Trung Quốc) và Hàn Quốc đối với một số mặt hàng.
Trong các trường hợp này, phía Việt Nam chỉ thực hiện việc rà soát, lập hồ sơ và gửi danh sách; quyền quyết định cuối cùng thuộc cơ quan quản lý của nước nhập khẩu.
Điều này đồng nghĩa một vùng trồng dù đã được cấp mã số trong nước vẫn chưa thể xuất khẩu nếu chưa hoàn thành quy trình đánh giá hoặc chưa được phía nhập khẩu phê duyệt. Tùy từng thị trường, việc đánh giá có thể được thực hiện thông qua hồ sơ kỹ thuật, kiểm tra trực tuyến hoặc cử đoàn chuyên gia sang kiểm tra thực địa trước khi chấp thuận mã số.
Ở chiều ngược lại, nhiều thị trường khác áp dụng cơ chế linh hoạt hơn. Theo ông Đạt, các thị trường như Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Australia, New Zealand, Chile, Thái Lan,... cơ bản chấp nhận danh sách mã số do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam xác nhận, đồng thời thực hiện hậu kiểm hoặc giám sát trong quá trình nhập khẩu.
Với nhóm thị trường này, thủ tục công nhận thường đơn giản hơn, song yêu cầu duy trì điều kiện của vùng trồng vẫn được kiểm soát chặt chẽ. Sự khác biệt này cho thấy mã số vùng trồng không phải một "giấy phép chung" có thể sử dụng cho mọi thị trường. Mỗi quốc gia xây dựng quy trình quản lý riêng dựa trên yêu cầu kiểm dịch, an toàn sinh học và khả năng truy xuất nguồn gốc. Vì vậy, cùng một mã số nhưng có thị trường chấp nhận ngay, có thị trường yêu cầu thẩm định, cũng có thị trường chưa công nhận đối với một số loại nông sản.
Ông Nguyễn Thanh Tùng, Cục Chuyển đổi số (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) chia sẻ, cùng là cấp mã số vùng trồng hoặc mã số cơ sở đóng gói, nhưng hồ sơ được phân tách ngay từ đầu theo mục đích sử dụng và yêu cầu của từng trường hợp, thay vì áp dụng một quy trình chung.
Theo hướng dẫn, người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp chỉ thực hiện thủ tục trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia bằng tài khoản VNeID. Sau khi lựa chọn địa phương thực hiện, hệ thống sẽ tự động chuyển hồ sơ đến đúng cơ quan chuyên môn của cấp xã để xử lý, thay cho việc người dân phải xác định cơ quan tiếp nhận hoặc nộp hồ sơ qua nhiều đầu mối khác nhau.
Hệ thống không gộp tất cả hồ sơ vào một quy trình duy nhất. Các nhóm thủ tục được thiết kế riêng, bao gồm cấp mới, cấp lại, bổ sung thị trường xuất khẩu đối với mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói. Việc phân loại này không chỉ giúp cơ quan quản lý xác định đúng quy trình xử lý, mà còn phản ánh sự khác biệt giữa quản lý vùng trồng phục vụ sản xuất trong nước và vùng trồng phục vụ xuất khẩu.
Sự khác biệt thể hiện rõ ở thời hạn giải quyết. Hồ sơ cấp mã số vùng trồng phục vụ sản xuất trong nước được xử lý trong 3 ngày làm việc, hồ sơ cấp lại còn 2 ngày. Trong khi, hồ sơ phục vụ xuất khẩu có thời hạn 10 ngày do phải thực hiện thêm các bước thẩm định, đánh giá thực địa và kiểm tra điều kiện đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu trước khi ban hành kết quả.
Một điểm mới khác là người nộp hồ sơ cấp mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu bắt buộc phải khai báo thị trường xuất khẩu ngay trong đơn đăng ký. Quy định này có ý nghĩa lớn bởi khi xác định ngay từ đầu nông sản sẽ hướng đến thị trường nào, cơ quan chuyên môn có cơ sở áp dụng đúng quy trình kỹ thuật, tiêu chí đánh giá và cơ chế công nhận tương ứng với từng nước nhập khẩu.
Điều này cũng tránh tình trạng cấp một mã số nhưng kỳ vọng có thể sử dụng cho mọi thị trường, trong khi mỗi quốc gia lại có yêu cầu và quy trình chấp thuận khác nhau.
Phát biểu kết luận tại hội nghị, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp yêu cầu các đơn vị huy động tổng lực để xây dựng hệ thống mã số vùng trồng minh bạch, phục vụ xuất khẩu bền vững. Các địa phương tập trung nguồn lực, tăng cường phối hợp giữa các cấp, các ngành để việc cấp mã số vùng trồng được thực hiện nhanh, hiệu quả và đồng bộ.
Theo Thứ trưởng, việc phân cấp thẩm quyền cho UBND cấp xã đồng nghĩa với khối lượng công việc của cấp cơ sở sẽ tăng lên đáng kể. Ngoài nhiệm vụ cấp mã số vùng trồng, cấp xã còn phải thực hiện công tác tiền kiểm, hậu kiểm và quản lý quá trình sản xuất.
Một nhiệm vụ quan trọng khác được Thứ trưởng đặc biệt lưu ý là đẩy mạnh phát triển các tổ hợp tác, hợp tác xã và các mô hình liên kết sản xuất. Theo ông, đây là cơ hội để các địa phương vận động nông dân tham gia sản xuất theo chuỗi, hình thành các vùng nguyên liệu quy mô lớn, đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu.
Đối với các đơn vị trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Thứ trưởng cho biết đã giao nhiệm vụ cụ thể. Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đóng vai trò đầu mối xây dựng kế hoạch, thành lập các đoàn công tác và phối hợp với địa phương triển khai Nghị quyết 36.
Bên cạnh đó, các đơn vị chuyên môn cần sớm biên soạn tài liệu, sổ tay hướng dẫn bằng cả bản giấy, bản điện tử và các video hướng dẫn để hỗ trợ cán bộ cơ sở, hợp tác xã và nông dân. Nội dung không chỉ hướng dẫn quy trình cấp mã số vùng trồng mà còn tập trung vào kỹ thuật sản xuất an toàn, kiểm soát dư lượng, xử lý các chỉ tiêu chất lượng và đáp ứng yêu cầu của từng thị trường xuất khẩu.
"Trong 6 tháng cuối năm, từng đơn vị phải bám sát nhiệm vụ được giao và lấy kết quả triển khai làm căn cứ đánh giá mức độ hoàn thành công việc. Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục đồng hành cùng các địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân để xây dựng nền nông nghiệp minh bạch, sản xuất có trách nhiệm, đáp ứng yêu cầu của cả thị trường trong nước và xuất khẩu đối với tất cả các ngành hàng, không chỉ riêng sầu riêng", Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp khẳng định.