Dù sở hữu mạng lưới sông ngòi trù phú nhưng Việt Nam lại phụ thuộc đến 60% lượng nước từ nước ngoài và đối mặt với 7 thách thức lớn về ô nhiễm, lãng phí. Để chủ động bảo vệ an ninh quốc gia, việc chuyển dịch sang tư duy quản trị thông minh bằng công cụ số đang trở thành yêu cầu cấp bách hơn bao giờ hết.
Phát biểu tại Hội thảo “Truyền thông, nâng cao nhận thức về khai thác bền vững tài nguyên nước và bảo vệ môi trường nước xuyên biên giới” được tổ chức tại tỉnh Lai Châu, ThS. Trần Thị Thanh Tâm, Trung tâm thông tin, kinh tế và giám sát tài nguyên nước, Cục Quản lý tài nguyên nước (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã có những chia sẻ về “Kịch bản nguồn nước” và các công cụ điều hòa phân phối cốt lõi theo Luật Tài nguyên nước 2023, mở ra lộ trình quản trị thông minh trên nền tảng số để bảo vệ mạch nguồn huyết mạch của dân tộc.
Khi nhìn vào những số liệu thống kê, nhiều người trong chúng ta thường nghĩ Việt Nam là một quốc gia dư thừa nước. Thực tế, tổng lượng nước trung bình nhiều năm trên phạm vi toàn quốc đạt khoảng 935,9 tỷ m3/năm. Trong đó, lượng nước mặt chiếm khoảng 844,4 tỷ m3 và nguồn nước dưới đất đóng góp khoảng 91,5 tỷ m3. Tuy nhiên, nếu đi sâu vào bản chất, chúng ta sẽ thấy một câu chuyện hoàn toàn khác về tính nhạy cảm và sự phụ thuộc mang tính chiến lược.
Nguồn nước mặt của Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc từ bên ngoài biên giới khi lượng nước từ các quốc gia thượng nguồn chảy vào chiếm tới 504 tỷ m3, tương đương khoảng 60% tổng lượng nước chảy vào nước ta. Con số này đặt an ninh nguồn nước của chúng ta vào thế bị động trước mọi hoạt động khai thác ở phía thượng lưu.
Không chỉ bất hợp lý về không gian, nguồn nước nội địa còn chịu sự phân bố cực đoan về mặt thời gian. Đánh giá về sự nghịch lý này, ThS. Trần Thị Thanh Tâm thẳng thắn chỉ rõ: “Mùa khô ở Việt Nam thường kéo dài từ 7 đến 9 tháng, nhưng lượng nước trong giai đoạn này chỉ chiếm khoảng 25 đến 28% tổng dòng chảy cả năm. Thực tế này cho thấy tài nguyên nước của nước ta đang bị phân bố hết sức bất hợp lý giữa các mùa và các vùng miền”.
Sự bất đối xứng này chính là nguyên nhân cốt lõi khiến nguồn nước bị phân bố không đều cả về không gian lẫn thời gian, tạo áp lực khủng hoảng nước rất lớn theo mùa.
Theo ThS. Trần Thị Thanh Tâm, từ thực tế phân bố trên, công tác quản lý tài nguyên nước tại Việt Nam hiện đang phải đối mặt với 7 thách thức lớn đan xen:
Thứ nhất là mâu thuẫn lợi ích ngày càng gia tăng: Đó là các mâu thuẫn trong khai thác và sử dụng nước giữa các ngành, các lĩnh vực kinh tế, cũng như sự xung đột quyền lợi giữa khu vực thượng lưu và hạ lưu trên các hệ sông ngày càng trở nên gay gắt.
Thứ hai là áp lực từ phát triển kinh tế và dân số: Sự gia tăng dân số, phát triển nông nghiệp, công nghiệp và tốc độ đô thị hóa nhanh chóng khiến nhu cầu nước trong vòng 50 năm qua tăng gấp ba lần. Dự báo đến năm 2030, nhu cầu nước cho các ngành sẽ chạm mốc 122,47 tỷ m3 và tiếp tục leo thang lên khoảng 131,7 tỷ m3/năm vào năm 2050.
Thứ ba là ô nhiễm nguồn nước từ hạ tầng xử lý yếu kém: Hoạt động phát triển kinh tế kéo theo áp lực xả thải khổng lồ, đặc biệt là nước thải sinh hoạt và nước thải từ các cụm công nghiệp, làng nghề chưa đạt chuẩn. Số liệu thống kê hiện nay rất đáng lo ngại: dù 274/297 khu công nghiệp đã có công trình xử lý nước thải tập trung (đạt 92,3%), thì ở khối cụm công nghiệp mới chỉ có 211/706 cơ sở có hệ thống xử lý (đạt tỷ lệ rất thấp là 30,3%). Riêng với nước thải sinh hoạt, toàn quốc hiện có 82 nhà máy, trạm xử lý tập trung với công suất thiết kế khoảng 1,5 triệu m3/ngày đêm, nhưng tỷ lệ thu gom và xử lý thực tế cũng chỉ đạt khoảng 17%.
Thứ tư là giá trị kinh tế của nước thấp và thực trạng lãng phí: Hiệu quả khai thác sử dụng nước trong các ngành kinh tế còn thấp và lãng phí, đặc biệt là sử dụng nước cho nông nghiệp và các đô thị. Tại Việt Nam, giá trị chỉ số tạo ra trên một mét khối nước chỉ khoảng 4,2 USD, mức này rất thấp khi so sánh với trung bình toàn cầu là khoảng 19,42 USD.
Thứ năm là suy giảm rừng đầu nguồn và biến đổi khí hậu cực đoan: Diện tích rừng đầu nguồn không được cải thiện, chất lượng kém làm giảm nguồn sinh thủy. Song song đó, tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu và nước biển dâng dẫn tới các hiện tượng thời tiết cực đoan như hạn hán, xâm nhập mặn và lũ lụt ngày càng gia tăng.
Thứ sáu là hệ quả từ tư duy “nước là của trời cho”: Vấn đề an ninh nguồn nước ở Việt Nam vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Đánh giá năm 2020 của Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) chỉ ra mức đảm bảo an ninh nguồn nước của Việt Nam chỉ đạt 2/5, thấp hơn đáng kể so với Indonesia (3/5), Úc (4/5) hay Hàn Quốc (4/5). Phân tích về tâm lý sử dụng nước này, ThS. Trần Thị Thanh Tâm chia sẻ: “Tại Việt Nam, nguồn tài nguyên nước có giá trị lớn nhưng việc đánh giá về mặt kinh tế vẫn chưa được chú trọng, nước vẫn bị xem là sản phẩm tự nhiên mặc định. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc sử dụng lãng phí và ý thức bảo vệ tài nguyên của người dân chưa cao”. Rõ ràng, khi tài nguyên chưa được định giá đúng theo quy luật kinh tế, sự lãng phí là hệ quả tất yếu.
Thứ bảy là khoảng trống trong công cụ dữ liệu quốc gia: Các công cụ phục vụ công tác quản lý tài nguyên nước hiện vẫn cần phải tiếp tục được hoàn thiện. Chúng ta hiện chưa có hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu quốc gia về tài nguyên nước, đồng thời thiếu công cụ hỗ trợ ra quyết định phân phối, điều hòa nước giữa các ngành và địa phương, dẫn đến việc quản lý chưa đáp ứng được các nhu cầu về an ninh nguồn nước, lương thực và năng lượng.
Đối mặt với những áp lực trên, Luật Tài nguyên nước 2023 và các văn bản sửa đổi, hướng dẫn thi hành đã đánh dấu bước tiến lớn về tư duy, cách tiếp cận và thay đổi căn bản trong phương thức quản trị. Luật thể chế hóa nhiều chính sách mới thông qua bốn nhóm lớn: bảo đảm an ninh nguồn nước; xã hội hóa ngành nước; kinh tế tài nguyên nước; bảo vệ tài nguyên nước và phòng chống tác hại do nước gây ra.
Nhận định về triết lý cốt lõi của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật mới, ThS. Trần Thị Thanh Tâm nhấn mạnh: “Hệ thống luật và các văn bản hướng dẫn đã thể chế hóa cụ thể hơn các quy định về điều hòa, phân phối tài nguyên nước. Đây cũng là một trong những công cụ cốt lõi để quản lý, sử dụng và bảo vệ hiệu quả nguồn nước, nhằm bảo đảm an ninh nguồn nước ở Việt Nam hiện nay”.
Trong đó, công cụ kịch bản nguồn nước được xem là giải pháp hành động thực tế. Hằng năm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ xây dựng và công bố kịch bản nguồn nước trên 16 lưu vực sông lớn, quan trọng trên cơ sở số liệu cung cấp từ các Bộ, ngành, địa phương. Dựa trên kịch bản này, các địa phương sẽ chỉ đạo lập kế hoạch khai thác phù hợp thực tế. Đối với các lưu vực dự báo xảy ra hạn hán, thiếu nước diện rộng, Bộ sẽ chủ trì phối hợp xây dựng phương án điều hòa phân phối tài nguyên nước và báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định trong trường hợp nghiêm trọng.
Cũng theo bà Tâm, quy định tại Nghị định 53/2024/NĐ-CP, kịch bản nguồn nước bao gồm các nội dung chính như: hiện trạng nước mặt, lượng tích trữ hồ chứa lớn, nguồn nước dưới đất, nhu cầu khai thác, diễn biến lưu lượng dòng chảy, xác định trạng thái nguồn nước, đánh giá mức độ và cảnh báo tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn kèm định hướng tổng thể. Mô hình vận hành linh hoạt dựa trên 3 trạng thái nguồn nước cụ thể:
Trạng thái bình thường: Khai thác sử dụng theo kế hoạch, lưu ý sử dụng hiệu quả, tránh lãng phí.
Trạng thái thiếu nước: Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì xây dựng, chỉ đạo thực hiện các giải pháp điều hòa phân phối để giảm thiểu nguy cơ thiếu nước.
Trạng thái thiếu nước nghiêm trọng: Thực hiện theo các chế định đặc biệt tại Điều 36 của Luật Tài nguyên nước khi xảy ra hạn hán, thiếu nước diện rộng.
Những nỗ lực đưa luật vào cuộc sống đã sớm đem lại những trái ngọt đầu tiên. Trong hai mùa cạn giai đoạn 2024 - 2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan và các nhà khoa học xây dựng, công bố kịch bản nguồn nước lần đầu cho 8 trên 16 lưu vực sông lớn (bao gồm sông Hồng - Thái Bình, sông Cửu Long, sông Bằng Giang - Kỳ Cùng, sông Mã, sông Đồng Nai, sông Hương, sông Sê San và Srepok).
Chứng minh tính hiệu quả bằng số liệu thực tiễn khách quan từ cơ sở, ThS. Trần Thị Thanh Tâm chia sẻ: “Việc phục vụ gieo cấy lúa vụ Đông Xuân khu vực Trung du và Đồng bằng Bắc Bộ đã bám sát các mức khuyến nghị trong kịch bản nguồn nước lưu vực sông Hồng - Thái Bình được công bố, góp phần sử dụng nước tiết kiệm và nâng cao hiệu quả phát điện trong mùa khô 2025 - 2026. Đồng thời, hầu hết các khu vực xảy ra thiếu nước cục bộ tại các địa phương trong mùa cạn năm 2025 đều đã được dự báo và cảnh báo sớm trong kịch bản nguồn nước”.
Trên đà thành công đó, theo bà Tâm, định hướng giai đoạn 2026 - 2027, Bộ sẽ tiếp tục công bố kịch bản mùa cạn cho 13 trên 16 lưu vực sông, bổ sung lần đầu cho 5 lưu vực sông là sông Cả, sông Ba, sông Thu Bồn, sông Trà Khúc và sông Vu Gia - Thu Bồn.
Bên cạnh quản lý nội địa, chiến lược ngoại giao nước và bảo vệ tài nguyên nước xuyên biên giới cũng được thiết lập chặt chẽ. Luật Tài nguyên nước 2023 xác định rõ nguyên tắc hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bảo đảm công bằng, hợp lý và không làm phương hại đến quyền lợi của các quốc gia có chung nguồn nước.
“Chúng ta sẽ chủ động hợp tác trao đổi thông tin dữ liệu khí tượng thủy văn, sinh thái, chất lượng nước và phối hợp lập quy hoạch chung bảo vệ nguồn nước liên quốc gia. Khi xảy ra sự cố ô nhiễm xuyên biên giới, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xử lý kịp thời và báo cáo Bộ Nông nghiệp và Môi trường để phối hợp với Bộ Ngoại giao cùng các quốc gia liên quan ngăn chặn theo pháp luật quốc tế. Sự đồng hành của Bộ Quốc phòng trong quản lý hệ thống quan trắc biên giới sẽ tạo nên một thế trận bảo vệ vững chắc. Mọi bất đồng, tranh chấp phát sinh sẽ được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với các điều ước quốc tế theo Điều 78 của Luật”, ThS. Trần Thị Thanh Tâm cho biết thêm.
Khái quát lại toàn bộ tầm nhìn chiến lược dài hạn trong hành trình chuyển dịch đầy thử thách này, ThS. Trần Thị Thanh Tâm đã đúc kết: "Việc thực thi các quy định trên nhằm hướng tới mục tiêu quản trị tài nguyên nước quốc gia trên nền tảng công nghệ số, đảm bảo an toàn nguồn nước cho phát triển bền vững và giữ vững chủ quyền quốc gia đối với các nguồn nước xuyên biên giới”.
Đây chính là chìa khóa mở ra tương lai an toàn, ổn định và thịnh vượng cho nguồn tài nguyên huyết mạch của dân tộc.