Trước áp lực thiếu hụt vật liệu xây dựng phục vụ các dự án trọng điểm, trong tháng 4/2026, TP. Hồ Chí Minh đã đồng thời triển khai hai cơ chế: đấu giá quyền khai thác khoáng sản theo thị trường và khoanh định mỏ không đấu giá để ưu tiên cho đầu tư công. Cách làm “song hành” này cho thấy nỗ lực tháo gỡ điểm nghẽn nguồn cung, đồng thời đặt ra bài toán cân bằng giữa hiệu quả kinh tế, quản lý tài nguyên và phát triển bền vững.
Trong thời gian ngắn, TP. Hồ Chí Minh liên tiếp có hai động thái đáng chú ý trong lĩnh vực khoáng sản. Một mặt, thành phố tổ chức đấu giá thành công 4 mỏ đá xây dựng, thu về gần 1.200 tỉ đồng cho ngân sách (gồm 618 tỉ đồng tiền cấp quyền khai thác khoáng sản và khoảng 558 tỉ đồng thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường). Mặt khác, thành phố cũng khoanh định nhiều khu vực khoáng sản không đấu giá nhằm phục vụ trực tiếp các dự án đầu tư công.
Cụ thể, 4 mỏ đá được đấu giá gồm: mỏ Tam Lập (I-1) tại xã Phú Giáo, diện tích 29,15 ha, trữ lượng hơn 14,8 triệu m³, trúng đấu giá 502 tỉ đồng; mỏ Tam Lập (khu II) diện tích 21,372 ha, trữ lượng hơn 11,2 triệu m³, trúng hơn 74 tỉ đồng; mỏ Phước Vĩnh diện tích 10 ha, trữ lượng khoảng 4,3 triệu m³, trúng hơn 21 tỉ đồng; và mỏ Minh Hòa diện tích 14,739 ha, trữ lượng hơn 3,9 triệu m³, trúng hơn 21 tỉ đồng.
Tổng trữ lượng từ các mỏ này đạt hơn 30 triệu m³, góp phần bổ sung nguồn cung đáng kể cho thị trường. Đáng chú ý, giá trúng đấu giá tăng từ 0,6% đến gần 20% so với giá khởi điểm, giúp ngân sách tăng thêm khoảng 466 tỉ đồng, đồng thời khẳng định tính cạnh tranh và minh bạch của cơ chế đấu giá.
Tuy nhiên, trong bối cảnh nhu cầu thực tế, nguồn cung này vẫn chưa đủ để đáp ứng “cơn khát” vật liệu xây dựng tại TP. Hồ Chí Minh và khu vực Đông Nam Bộ. Hàng loạt dự án hạ tầng lớn như đường Vành đai 3, các tuyến cao tốc liên vùng cùng quá trình đô thị hóa nhanh đang đòi hỏi khối lượng đá, đất san lấp rất lớn.
Song song với cơ chế thị trường, ngày 21/4, UBND TP. Hồ Chí Minh đã phê duyệt quyết định số 2367/QĐ-UBND về việc khoanh định 4 khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản nhóm IV, với tổng diện tích khoảng 15,67 ha, phân bố tại các địa bàn Xuân Sơn, Nghĩa Thành, Xuyên Mộc và Đất Đỏ. Các khu vực này được xác định nhằm cung cấp vật liệu đất đắp cho các công trình trọng điểm.
Nguồn vật liệu từ các khu vực này sẽ phục vụ các dự án lớn như đường Vành đai 4 TP. Hồ Chí Minh, nâng cấp các tuyến ĐT991, ĐT992, cũng như các tuyến kết nối sân bay Long Thành. Việc khoanh định được thực hiện theo quy định của Luật Địa chất và Khoáng sản năm 2024 và các nghị định hướng dẫn.
Trước đó, ngày 17/4, TP. Hồ Chí Minh cũng đã phê duyệt quyết định số 2310/QĐ-UBND về khoanh định khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản nhóm III (đá xây dựng), tập trung tại các khu vực Thường Tân và Phú Giáo. Danh mục bao gồm hàng loạt mỏ quy mô lớn như Thường Tân I-A, I-B, I-C, I-D, Thường Tân II, Thường Tân VI (khu I, khu II), mỏ Phước Vĩnh và cả các khu vực xen kẹp giữa các mỏ hiện hữu.
Các khu vực này có tổng diện tích hàng chục hecta, với độ sâu khai thác phổ biến đến cote -120m, cho thấy quy mô khai thác lớn nhằm đáp ứng nhu cầu vật liệu xây dựng cho khu vực. Việc đưa cả các khu vực xen kẹp vào khai thác cũng cho thấy nỗ lực tận dụng tối đa tài nguyên hiện có, hạn chế lãng phí trong quy hoạch khoáng sản.
Việc triển khai song song hai cơ chế đấu giá và không đấu giá phản ánh cách tiếp cận linh hoạt trong điều hành. Nếu đấu giá giúp tăng thu ngân sách, bảo đảm tính cạnh tranh và minh bạch, thì cơ chế không đấu giá đóng vai trò điều tiết, bảo đảm nguồn cung cho các dự án đầu tư công cấp thiết.
Dù vậy, thực tế cho thấy “cơn khát” vật liệu xây dựng vẫn chưa được giải quyết triệt để. Nguyên nhân không chỉ nằm ở trữ lượng, mà còn ở nhiều yếu tố như năng lực khai thác của doanh nghiệp, hạ tầng vận chuyển chưa đồng bộ, thủ tục pháp lý kéo dài và sự thiếu liên kết giữa các địa phương trong vùng.
Nhiều nhà thầu phản ánh phải chờ đợi nhiều ngày để tiếp cận nguồn vật liệu, trong khi giá đá, đất san lấp liên tục biến động. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến tiến độ thi công mà còn làm tăng chi phí đầu tư, gây áp lực lên toàn bộ chuỗi cung ứng.
Trong bối cảnh đó, cơ chế không đấu giá được xem là giải pháp mang tính cấp bách, giúp Nhà nước chủ động phân bổ tài nguyên, giảm phụ thuộc vào thị trường và hạn chế tình trạng đầu cơ vật liệu. Tuy nhiên, cơ chế này cũng đặt ra yêu cầu cao về minh bạch và giám sát.
Nếu không kiểm soát chặt chẽ, nguy cơ phát sinh lợi ích nhóm, thất thoát tài nguyên hoặc khai thác vượt quy hoạch là điều cần được tính đến. Bên cạnh đó, việc gia tăng khai thác khoáng sản trong thời gian ngắn cũng tạo áp lực lớn lên môi trường, từ bụi, tiếng ồn đến biến đổi địa hình và ảnh hưởng hệ sinh thái.
Có thể thấy, việc mở thêm mỏ – dù theo cơ chế đấu giá hay không đấu giá – chỉ là giải pháp ngắn hạn. Về lâu dài, TP. Hồ Chí Minh và các địa phương trong vùng cần xây dựng chiến lược tổng thể về vật liệu xây dựng, gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
Trong đó, cần tăng cường phối hợp liên vùng, nâng cao năng lực khai thác, cải thiện hạ tầng logistics và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong khai thác, chế biến khoáng sản. Đồng thời, việc phát triển vật liệu thay thế, tái chế chất thải xây dựng cũng là hướng đi cần thiết nhằm giảm áp lực lên tài nguyên tự nhiên.
Trong hành trình phát triển của TP. Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam Bộ, tài nguyên khoáng sản vừa là động lực, vừa là thách thức. Giải được bài toán vật liệu xây dựng không chỉ giúp thúc đẩy các dự án trọng điểm mà còn góp phần định hình một mô hình phát triển hài hòa giữa kinh tế và môi trường.