GS, TS. Huỳnh Thị Lan Hương: Đào tạo nhân lực nông nghiệp - môi trường phải đi trước một bước trong kỷ nguyên số

GS, TS. Huỳnh Thị Lan Hương: Đào tạo nhân lực nông nghiệp - môi trường phải đi trước một bước trong kỷ nguyên số

Chủ nhật, 12/4/2026, 07:31 (GMT+7)
logo Trong bối cảnh ngành nông nghiệp và môi trường đang đẩy mạnh chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nguồn nhân lực, công tác tuyển sinh của Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội không chỉ là câu chuyện quy mô đào tạo, mà còn phản ánh định hướng phát triển của một cơ sở giáo dục đại học đặc thù của ngành. Nhân mùa tuyển sinh năm 2026 sắp đến, phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường có cuộc trao đổi với GS, TS. Huỳnh Thị Lan Hương, Quyền Hiệu trưởng Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội về tầm nhìn đào tạo nhân lực tài nguyên - môi trường trong kỷ nguyên số.
media_-601-3_1775787381.jpg
GS, TS. Huỳnh Thị Lan Hương

PV: Thưa GS, TS. Huỳnh Thị Lan Hương, trên cương vị Quyền Hiệu trưởng, bà nhìn nhận như thế nào về sứ mệnh của Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội trong giai đoạn hiện nay?

GS, TS. Huỳnh Thị Lan Hương:

Trong giai đoạn hiện nay, tôi cho rằng sứ mệnh của Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội không chỉ dừng ở đào tạo người học có kiến thức chuyên môn, mà phải tiến thêm một bước là đào tạo nguồn nhân lực có năng lực thích ứng, năng lực số và tư duy phát triển bền vững để phục vụ trực tiếp cho yêu cầu quản lý, khai thác hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Đây là giai đoạn đất nước ta đang đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết số 57; riêng trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đã ban hành kế hoạch triển khai Nghị quyết. Trường đại học của ngành vì thế phải đi đầu trong việc đổi mới mô hình đào tạo, cập nhật chương trình, gắn tri thức học thuật với thực tiễn quản lý nhà nước, nhu cầu doanh nghiệp và yêu cầu phát triển xanh, phát triển số.

Tôi nghĩ rằng, trong bối cảnh mới, một trường đại học mạnh không chỉ được đo bằng số lượng tuyển sinh, mà còn bằng khả năng cung cấp cho xã hội những kỹ sư, cử nhân, học viên sau đại học có thể làm chủ công nghệ, làm chủ dữ liệu, làm chủ các công cụ quản trị hiện đại trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường.

PV: Công tác tuyển sinh năm 2026 của Nhà trường cho thấy thông điệp gì về định hướng đào tạo thưa bà?

GS, TS. Huỳnh Thị Lan Hương:

Thông tin tuyển sinh năm 2026 (dự kiến) phản ánh khá rõ định hướng đào tạo của Nhà trường trong giai đoạn mới. Ở trình độ đại học chính quy, Trường dự kiến tuyển sinh với 4.830 chỉ tiêu tại trụ sở chính Hà Nội và 20 chỉ tiêu tại Phân hiệu Thanh Hóa, tổ chức theo 4 phương thức gồm xét tuyển thẳng, xét điểm thi tốt nghiệp THPT, xét học bạ 6 học kỳ và xét kết quả thi đánh giá năng lực của Đại học Quốc gia Hà Nội.

Danh mục ngành đào tạo cũng thể hiện rất rõ tinh thần vừa giữ thế mạnh truyền thống, vừa mở rộng sang các lĩnh vực liên ngành và gắn với nhu cầu thị trường. Bên cạnh các ngành nòng cốt như Quản lý đất đai, Quản lý tài nguyên và môi trường, Khí tượng và khí hậu học, Thủy văn học, Kỹ thuật trắc địa bản đồ,… Nhà trường tiếp tục tuyển sinh các ngành như Công nghệ thông tin, Logistics và quản lý chuỗi cung ứng, Marketing, Luật, Ngôn ngữ Anh, Quản trị kinh doanh, Bất động sản, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành…

Điều đó cho thấy chúng tôi không nhìn đào tạo các lĩnh vực về tài nguyên - môi trường theo nghĩa hẹp, mà theo hướng mở rộng tích hợp giữa khoa học Trái đất, công nghệ, quản trị, kinh tế và dịch vụ. Đây là hướng đi cần thiết để người học sau khi tốt nghiệp có thể tham gia vào nhiều mắt xích của nền kinh tế xanh và kinh tế số.

646899985_1358916532926849_7683956772376725569_n_1775787429.jpg
Những giảng viên của Nhà trường không chỉ tận tâm với bục giảng mà còn tiên phong đổi mới phương pháp giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và lan tỏa tinh thần chuyển đổi số trong giáo dục đại học.

PV: Nhiều thí sinh và phụ huynh quan tâm đến câu chuyện ngành học nào đang thể hiện rõ nhất tinh thần “đào tạo trong kỷ nguyên chuyển đổi số”. Quan điểm của bà ra sao thưa bà?

GS, TS. Huỳnh Thị Lan Hương:

Tôi cho rằng, chuyển đổi số không chỉ nằm ở một ngành riêng lẻ, mà phải trở thành năng lực nền trong toàn bộ các chương trình đào tạo. Tuy nhiên, nhìn từ cơ cấu tuyển sinh năm 2026, có thể thấy một số nhóm ngành thể hiện rất rõ yêu cầu đó.

Thứ nhất, là nhóm ngành gắn trực tiếp với dữ liệu và công nghệ, như Công nghệ thông tin. Đây là lĩnh vực quan trọng để thúc đẩy số hóa quản trị đại học, xây dựng hạ tầng dữ liệu và phát triển các ứng dụng phục vụ quản lý tài nguyên, môi trường.

Thứ hai là các ngành thế mạnh đặc thù như: Quản lý đất đai, Quản lý tài nguyên và môi trường, Kỹ thuật trắc địa bản đồ, Khí tượng và khí hậu học, Thủy văn học, Kỹ thuật địa chất. Đây là những lĩnh vực mà chuyển đổi số hiện nay gắn chặt với hệ thống cơ sở dữ liệu, viễn thám, GIS, mô hình dự báo, phân tích dữ liệu lớn, bản đồ số và các công cụ hỗ trợ ra quyết định. Ngay trong báo cáo triển khai Nghị quyết số 57 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhiều cơ sở dữ liệu chuyên ngành như cơ sở dữ liệu đất đai, khí tượng thủy văn, môi trường, viễn thám và địa chất, khoáng sản đã được nhấn mạnh là nền tảng quan trọng của chuyển đổi số ngành.

Thứ ba là các ngành liên ngành như: Biến đổi khí hậu và phát triển bền vững, Logistics và quản lý chuỗi cung ứng, Kinh tế tài nguyên thiên nhiên. Đây là những lĩnh vực đòi hỏi người học vừa có kiến thức chuyên môn, vừa có tư duy quản trị, khả năng phân tích dữ liệu và tiếp cận các mô hình vận hành hiện đại.

Nói cách khác, đào tạo trong kỷ nguyên số không phải là đưa thêm vài học phần công nghệ, mà là thay đổi cách dạy, cách học, cách tổ chức tri thức và cách kết nối giữa nhà trường với doanh nghiệp.

665928826_1382365170581985_5260699348960759434_n_1775787540.jpg
Những sinh viên hôm nay chính là nguồn nhân lực tương lai, được định hướng không chỉ về chuyên môn mà còn về trách nhiệm với môi trường và xã hội.

PV: Từ thông tin tuyển sinh đại học 2026 (dự kiến), có thể thấy Nhà trường dành chỉ tiêu khá lớn cho một số ngành. Điều này có phải là một thông điệp về nhu cầu nhân lực của xã hội thưa bà?

GS, TS. Huỳnh Thị Lan Hương:

Đúng vậy. Cơ cấu chỉ tiêu luôn phản ánh cả năng lực đào tạo của Nhà trường lẫn dự báo nhu cầu nhân lực. Chẳng hạn, năm 2026, Trường dự kiến tuyển 540 chỉ tiêu ngành Quản lý đất đai, 400 chỉ tiêu ngành Quản lý tài nguyên và môi trường, 400 chỉ tiêu ngành Bất động sản, 450 chỉ tiêu ngành Công nghệ thông tin, 250 chỉ tiêu ngành Quản trị kinh doanh, 250 chỉ tiêu ngành Marketing, 360 chỉ tiêu ngành Kế toán, 250 chỉ tiêu ngành Logistics và quản lý chuỗi cung ứng, 200 chỉ tiêu ngành Quản trị khách sạn và 300 chỉ tiêu ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành.

Những con số này cho thấy hai xu hướng. Một là, các lĩnh vực nền tảng của ngành tài nguyên và môi trường vẫn có nhu cầu rất lớn, nhất là quản lý đất đai, tài nguyên, môi trường. Hai là, các ngành gắn với kinh tế dịch vụ, quản trị và công nghệ đang ngày càng cần những người học có nền tảng liên ngành, có thể làm việc trong môi trường số hóa, hội nhập và cạnh tranh cao.

Nhà trường không chạy theo xu hướng ngắn hạn, mà cố gắng xác lập một cơ cấu tuyển sinh vừa bám sát sứ mệnh đặc thù, vừa mở rộng cơ hội việc làm cho người học.

PV: Một điểm đáng chú ý là ở bậc thạc sĩ, Nhà trường tiếp tục tuyển sinh ở những ngành gắn rất chặt với thế mạnh truyền thống. Bà có thể chia sẻ thêm về định hướng đào tạo sau đại học?

GS, TS. Huỳnh Thị Lan Hương:

Ở trình độ thạc sĩ, Trường tổ chức tuyển sinh đợt 1 năm 2026 theo phương thức xét tuyển, đào tạo chính quy trong 18 tháng, với 7 ngành, gồm: Kỹ thuật Trắc địa - Bản đồ, Thủy văn học, Khí tượng và khí hậu học, Quản lý đất đai, Khoa học môi trường, Quản lý tài nguyên và môi trường, Quản trị kinh doanh. Trong đó, các ngành Quản lý đất đai và Quản lý tài nguyên và môi trường cùng có chỉ tiêu dự kiến cao nhất là 85 học viên, tiếp đến là Quản trị kinh doanh 65 chỉ tiêu, Khoa học môi trường 45 chỉ tiêu.

Điều này thể hiện định hướng rất rõ: đào tạo sau đại học của Trường tập trung vào các lĩnh vực chuyên sâu, phục vụ trực tiếp công tác quản lý, nghiên cứu, tư vấn và hoạch định chính sách. Trong bối cảnh các vấn đề về đất đai, môi trường, biến đổi khí hậu, tài nguyên nước ngày càng phức tạp, nhu cầu về đội ngũ có trình độ sau đại học là rất lớn.

Chúng tôi muốn phát triển đào tạo thạc sĩ theo hướng nâng cao năng lực nghiên cứu ứng dụng, năng lực phân tích chính sách và năng lực giải quyết các vấn đề thực tiễn của ngành.

PV: Nhà trường sẽ làm gì để tuyển sinh không chỉ “đủ số lượng” mà còn nâng chất lượng đầu vào và chất lượng đào tạo thưa bà?

GS, TS. Huỳnh Thị Lan Hương:

Tôi cho rằng, chất lượng tuyển sinh phải được nhìn trong cả chuỗi: từ công bố thông tin minh bạch, tư vấn đúng, tổ chức xét tuyển nghiêm túc, đến xây dựng chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất và môi trường học thuật.

Với bậc đại học, Nhà trường công khai rõ các phương thức tuyển sinh, điều kiện dự tuyển, tổ hợp xét tuyển, cơ chế cộng điểm và nguyên tắc đăng ký nguyện vọng trên hệ thống chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Với bậc thạc sĩ, các điều kiện về văn bằng, ngoại ngữ, học bổ sung kiến thức, thi đánh giá năng lực ngoại ngữ đầu vào, thời gian nhận hồ sơ và công bố kết quả cũng được thông báo tương đối rõ. Đây là nền tảng để thí sinh tiếp cận thông tin đầy đủ, hạn chế sai sót và tăng tính cạnh tranh lành mạnh.

Nhưng sâu xa hơn, muốn nâng chất lượng đầu vào thì nhà trường phải xây dựng được uy tín học thuật và niềm tin xã hội. Người học ngày nay lựa chọn một trường đại học không chỉ vì điểm chuẩn hay vị trí địa lý, mà vì họ nhìn thấy tương lai nghề nghiệp, chất lượng chương trình, cơ hội thực hành và khả năng thích ứng của trường trước những thay đổi của thời đại.

PV: Bà nhiều lần nhấn mạnh tinh thần Nghị quyết số 57. Theo bà, một trường đại học của ngành cần cụ thể hóa tinh thần đó trong đào tạo như thế nào thưa bà?

GS, TS. Huỳnh Thị Lan Hương:

Theo tôi, điều quan trọng nhất của Nghị quyết số 57 là tạo ra một tư duy phát triển mới: coi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không phải là phần việc bổ sung, mà là động lực đột phá. Với giáo dục đại học, điều này càng có ý nghĩa đặc biệt.

Một là, nhà trường phải đổi mới chương trình đào tạo theo hướng mở, liên ngành, cập nhật nhanh với thực tiễn công nghệ và quản trị.

Hai là, phải tăng cường nền tảng số trong quản trị đại học, trong phương thức giảng dạy, kiểm tra, đánh giá và hỗ trợ người học.

Ba là, phải thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng, gắn nghiên cứu với các bài toán thực tế của ngành nông nghiệp và môi trường.

Bốn là, phải hình thành đội ngũ người học có năng lực số, tư duy đổi mới sáng tạo và tinh thần phụng sự cộng đồng.

Thực tế, trường đã có kế hoạch cụ thể hóa các chủ trương của Nghị quyết 57 và các kế hoạch của Bộ vào trong các hoạt động của Nhà trường. Vì thế, tuyển sinh năm 2026 theo tôi sẽ là bước khởi đầu cho việc lựa chọn, chuẩn bị và bồi dưỡng một lớp người học mới có thể tham gia trực tiếp vào tiến trình chuyển đổi số của ngành trong những năm tới.

Đào tạo nguồn nhân lực tài nguyên - môi trường trong giai đoạn hiện nay không chỉ là trang bị kiến thức, mà là hình thành năng lực số, tư duy đổi mới và khả năng giải quyết những bài toán thực tiễn của đất nước

647510622_1358916592926843_3979151560713796521_n_1775787772.jpg
Những nữ giảng viên - lực lượng quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực tài nguyên và môi trường - đang góp phần lan tỏa tri thức và tinh thần đổi mới trong kỷ nguyên số.

PV: Từ góc độ người đứng đầu Nhà trường, bà muốn gửi thông điệp gì tới thí sinh trong mùa tuyển sinh năm nay?

GS, TS. Huỳnh Thị Lan Hương:

Tôi muốn nhắn gửi với các em rằng, lựa chọn ngành học hôm nay không chỉ là chọn một tấm bằng cho ngày mai, mà là chọn con đường nghề nghiệp gắn với những vấn đề lớn của đất nước: quản lý tài nguyên hiệu quả hơn, bảo vệ môi trường tốt hơn, ứng phó biến đổi khí hậu chủ động hơn và phát triển kinh tế theo hướng xanh, bền vững, số hóa.

Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội có những ngành học rất đặc thù, rất cần cho xã hội và cũng đang có nhiều cơ hội phát triển mới. Dù các em chọn Quản lý đất đai, Công nghệ thông tin, Khí tượng và khí hậu học, Quản lý tài nguyên và môi trường hay bất kỳ ngành nào khác, điều quan trọng là phải chọn bằng sự hiểu biết, bằng sự phù hợp và bằng khát vọng cống hiến.

Nhà trường mong muốn trở thành nơi giúp người học không chỉ tích lũy tri thức, mà còn hình thành năng lực nghề nghiệp, tinh thần đổi mới sáng tạo và trách nhiệm với xã hội trong một thời đại đang thay đổi rất nhanh.

PV: Xin trân trọng cảm ơn bà!

Hồng Minh (thực hiện)