news
GS, TS. Phạm Văn Điển: Các-bon rừng chỉ có giá trị khi được quản trị bằng dữ liệu và niềm tin

GS, TS. Phạm Văn Điển: Các-bon rừng chỉ có giá trị khi được quản trị bằng dữ liệu và niềm tin

Thứ tư, 10/6/2026, 07:47 (GMT+7)
logo Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 180/2026/NĐ-CP về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng được xem là bước tiến quan trọng trong quá trình hoàn thiện thể chế phát triển thị trường các-bon tại Việt Nam. Không chỉ mở ra cơ hội chuyển hóa giá trị sinh thái của rừng thành nguồn lực kinh tế mới, Nghị định còn đặt nền móng để ngành lâm nghiệp tham gia sâu hơn vào dòng chảy tài chính khí hậu toàn cầu. Xung quanh những cơ hội, thách thức và yêu cầu đặt ra trong quá trình hiện thực hóa thị trường các-bon rừng, phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với GS, TS. Phạm Văn Điển, Phó Giám đốc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.
chatgpt-image-16_35_51-7-thg-6-2026_1780827535.png
GS, TS. Phạm Văn Điển, Phó Giám đốc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam

"Mỗi tấn CO₂e không chỉ là một con số, mà là tài sản môi trường, tín hiệu thị trường và trách nhiệm phát triển."

PV: Thưa ông, Nghị định số 180/2026/NĐ-CP đã mở ra những cơ hội và đặt ra những yêu cầu mới gì đối với ngành lâm nghiệp Việt Nam trong quá trình phát triển thị trường các-bon rừng?

GS, TS. Phạm Văn Điển: Nghị định số 180 là bước đi quan trọng để Việt Nam bắt nhịp với luật chơi của thị trường các-bon. Điểm lớn nhất là chuyển lợi thế sinh thái của rừng, cùng nỗ lực của người dân, chủ rừng và địa phương, thành một loại dịch vụ môi trường có giá trị kinh tế trong khuôn khổ pháp luật. Khi đó, mỗi tấn CO₂e không chỉ là thông số kỹ thuật, mà trở thành dữ liệu quản trị, tài sản môi trường, tín hiệu thị trường và ràng buộc trách nhiệm.

Nghị định cũng tạo thêm cơ sở để tín chỉ các-bon rừng của Việt Nam tham gia sâu hơn vào các cơ chế hợp tác quốc tế. Trong bối cảnh thế giới đã phát triển mạnh CDM, REDD+, tài chính khí hậu, thị trường các-bon và các cơ chế điều chỉnh thương mại theo phát thải, việc Việt Nam ban hành quy định riêng về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng cho thấy ngành lâm nghiệp đang từng bước được định vị trong kiến trúc tài chính khí hậu mới.

Tuy vậy, không phải có rừng là có tiền ngay. Muốn tạo tín chỉ có giá trị, phải có dự án tốt, dữ liệu tốt, MRV tốt, thẩm định tốt, đăng ký rõ ràng và chia sẻ lợi ích công bằng. Việt Nam đang bắt nhịp nhanh hơn về thể chế, nhưng khoảng cách lớn vẫn nằm ở năng lực thực thi.

Một điểm rất sắc nét của Nghị định là yêu cầu không được tính toán trùng, giao dịch trùng đối với kết quả giảm phát thải và tín chỉ các-bon rừng. Đây là điều kiện cốt lõi để bảo vệ niềm tin của người mua, người bán, chủ rừng, địa phương và đối tác quốc tế.

chatgpt-image-16_41_38-7-thg-6-2026_1780827592.png

PV: Thưa ông, ngành lâm nghiệp Việt Nam đang sở hữu những lợi thế nào để tham gia thị trường các-bon và phát triển các-bon rừng?

GS, TS. Phạm Văn Điển: Lâm nghiệp là một trong những lĩnh vực hiếm hoi có phát thải ròng âm, tức hấp thụ nhiều hơn phát thải. Việt Nam có khoảng 14,8 triệu ha rừng; mỗi năm, rừng có thể hấp thụ ròng khoảng 40 triệu tCO₂e. Rừng ngập mặn khoảng 200.000 ha cũng là nguồn tạo các-bon xanh quan trọng, gắn với bảo vệ bờ biển, đa dạng sinh học, sinh kế thủy sản và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Thực tế, Việt Nam đã nhận khoản chi trả 56,5 triệu USD cho khoảng 11,3 triệu tCO₂e giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ, gồm cả lượng chuyển nhượng bổ sung 1 triệu tấn gần đây. Điều đó cho thấy, các-bon rừng có thể trở thành nguồn lực cho bảo vệ rừng, sinh kế và phát triển xanh.

Nhưng vị thế đó không tự chuyển thành giá trị. Rừng phải được quản lý tốt hơn, chất lượng rừng phải được nâng lên, dữ liệu rừng phải đáng tin hơn, quyền và lợi ích của chủ rừng phải rõ hơn. Tín chỉ các-bon rừng không chỉ phản ánh lượng CO₂e được hấp thụ hoặc giảm phát thải, mà còn phản ánh chất lượng quản trị rừng, tính minh bạch của dữ liệu và đồng lợi ích về môi trường, xã hội. Đây là cơ hội lớn, nhưng cũng là trách nhiệm lớn.

"Không phải có rừng là có tiền ngay. Giá trị của các-bon rừng được tạo nên từ dữ liệu, quản trị và sự minh bạch."

PV: Thưa ông, từ kinh nghiệm quốc tế, đâu là những bài học quan trọng Việt Nam cần lưu ý trong quá trình phát triển thị trường các-bon và các-bon rừng?

GS, TS. Phạm Văn Điển: Thị trường các-bon trên thế giới được hình thành qua một quá trình dài: từ cam kết khí hậu, cơ chế dự án, tài chính khí hậu, định giá các-bon đến điều chỉnh thương mại theo phát thải.

Dấu mốc sớm là Cơ chế phát triển sạch, gọi tắt là CDM, được thiết lập theo Nghị định thư Kyoto năm 1997. Đây là một trong những cơ chế đầu tiên để lại nhiều bài học về đường cơ sở, tính bổ sung, MRV, đăng ký tín chỉ và phòng ngừa tính toán trùng lặp.

Sau CDM, thế giới phát triển mạnh REDD+, chi trả dịch vụ môi trường, tài chính khí hậu và thị trường các-bon tự nguyện. Nhiều tổ chức, cơ chế và tiêu chuẩn quốc tế về các-bon đã góp phần hình thành phương pháp, nguồn lực tài chính, năng lực kỹ thuật và hệ thống kiểm chứng cho các dự án khí hậu, trong đó có các-bon rừng.

Ở cấp quốc gia và khu vực, Costa Rica triển khai chi trả dịch vụ môi trường rừng từ năm 1997, là mô hình sớm về định giá dịch vụ sinh thái của rừng. EU vận hành hệ thống giao dịch phát thải từ năm 2005. New Zealand khởi động hệ thống giao dịch phát thải từ năm 2008 và đưa lâm nghiệp vào cơ chế này ngay từ đầu. Tại Hoa Kỳ, RGGI bắt đầu giai đoạn tuân thủ từ năm 2009; California triển khai cap-and-trade từ năm 2013. Australia phát triển cơ chế tín chỉ các-bon từ năm 2011. Nam Phi áp dụng thuế các-bon từ năm 2019.

Ở châu Á, Singapore áp dụng thuế các-bon từ năm 2019; Trung Quốc vận hành thị trường các-bon quốc gia từ năm 2021; Malaysia ra mắt sàn các-bon tự nguyện từ năm 2022; Indonesia ra mắt sàn giao dịch các-bon từ năm 2023. Việt Nam tham gia JETP từ năm 2022, phê duyệt Đề án phát triển thị trường các-bon năm 2025, thí điểm sàn giao dịch các-bon giai đoạn 2025-2028 và vận hành chính thức sau năm 2028; gần đây ban hành Nghị định 180/2026/NĐ-CP về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng.

Hiện tại, xu thế quốc tế chuyển nhanh từ khuyến khích tự nguyện sang ràng buộc bằng dữ liệu, chi phí và tiêu chuẩn thương mại. JETP được khởi động đầu tiên với Nam Phi từ năm 2021; CBAM của EU được thông qua năm 2023, chuyển tiếp từ tháng 10/2023 và chính thức từ năm 2026.

Bài học chung là không thị trường nào thành công chỉ nhờ mở sàn giao dịch. Phải có dữ liệu đáng tin, MRV chặt chẽ, đăng ký minh bạch, giám sát độc lập, quy tắc tuân thủ rõ ràng và cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng. Với các-bon rừng, yêu cầu còn cao hơn vì gắn với đất đai, rừng, đa dạng sinh học, sinh kế cộng đồng, quyền của chủ rừng và uy tín quốc gia.

rung_24052026165708_136_1780827663.jpg

PV: Thưa ông, doanh nghiệp, chủ rừng và địa phương cần chuẩn bị những gì để tham gia hiệu quả vào thị trường các-bon rừng đang hình thành tại Việt Nam?

GS, TS. Phạm Văn Điển: Doanh nghiệp cần chuyển từ tư duy tuân thủ môi trường theo hồ sơ sang quản trị phát thải theo dữ liệu. Cần kiểm kê khí nhà kính, nhận diện phát thải trong sản xuất và chuỗi cung ứng, đưa chi phí các-bon vào quản trị tài chính, đổi mới công nghệ, tiết kiệm năng lượng và sử dụng năng lượng sạch. Doanh nghiệp cần coi các-bon là một yếu tố cạnh tranh mới.

Chủ rừng và cộng đồng cần hiểu rõ thị trường các-bon, dự án các-bon rừng, quyền lợi và trách nhiệm của mình, dữ liệu cần có, phương án chia sẻ lợi ích; đồng thời đổi mới phương thức kinh doanh rừng theo hướng tạo thêm giá trị từ các-bon, dịch vụ hệ sinh thái và quản lý rừng bền vững.

Địa phương là nơi hội tụ nguồn phát thải, bể hấp thụ và chủ thể thực thi, nên cần chủ động. Cần rà soát các cơ sở phát thải lớn, các ngành chịu tác động của CBAM, tiềm năng giảm phát thải trong từng lĩnh vực; đồng thời đánh giá khả năng hấp thụ từ rừng, đất nông nghiệp và đất ngập nước. Cần xây dựng, cập nhật cơ sở dữ liệu phát thải và hấp thụ; thiết kế, phát triển dự án các-bon; đồng thời thí điểm vận hành cơ chế giảm phát thải khí nhà kính trong một số lĩnh vực trọng điểm.

Tôi muốn nhấn mạnh thêm một hướng mới: tín chỉ các-bon cũng cần được “chế biến sâu”. Không nên đơn thuần hiểu tín chỉ là một con số phản ánh lượng CO₂e, mà giá trị của nó còn được gia tăng bằng cách kéo dài thời gian các-bon trở lại khí quyển, kết hợp thay thế vật liệu phát thải cao, như gỗ kỹ thuật, đồ gỗ bền lâu, cấu kiện gỗ thay thế một phần thép, xi măng; lưu giữ lâu hơn trong các bể chứa như đất rừng, rừng ngập mặn, sản phẩm gỗ dài hạn; đồng thời tạo ra các sản phẩm đa dụng, phát thải thấp hơn trong quá trình chế biến, sử dụng và tiêu thụ sản phẩm gỗ, như biochar, bio-oil, vật liệu sinh học từ phụ phẩm gỗ.

Khi đó, không những tạo ra tín chỉ, mà còn tạo thêm vật liệu, năng lượng sạch hơn, cải thiện sinh kế, đa dạng sinh học, bảo vệ đất, nước và tăng khả năng chống chịu khí hậu.

Thị trường các-bon không phải là mục tiêu cuối cùng. Điều cốt lõi là giảm phát thải tại nguồn phải đi trước; bù trừ chỉ là phần sau cùng cho lượng phát thải khó tránh khỏi. Đó là nền tảng để thị trường các-bon đi chắc, đi xa và có uy tín.

Thị trường các-bon rừng đang mở ra cơ hội để Việt Nam chuyển hóa những giá trị sinh thái vốn lâu nay khó định lượng thành nguồn lực cho phát triển bền vững. Tuy nhiên, như GS, TS. Phạm Văn Điển nhấn mạnh, giá trị thực của các-bon rừng không nằm ở những con số tín chỉ được giao dịch, mà ở khả năng thúc đẩy quản lý rừng bền vững, bảo tồn đa dạng sinh học, cải thiện sinh kế người dân và góp phần thực hiện cam kết phát thải ròng bằng "0". Con đường phía trước còn nhiều thách thức, nhưng với nền tảng thể chế đang từng bước được hoàn thiện, các-bon rừng hoàn toàn có thể trở thành một trong những động lực mới cho tăng trưởng xanh và phát triển kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam.

 

Hoàng Phương (thực hiện)