Hội thảo Quốc gia với chủ đề “Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững” do Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương và UBND tỉnh Nghệ An tổ chức. Đây là một trong những hoạt động trọng tâm hưởng ứng Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam, Ngày Đại dương thế giới (8/6) và Tháng hành động vì môi trường năm 2026.
Tham dự Hội thảo có lãnh đạo Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đại diện các bộ, ngành Trung ương; các địa phương 21 tỉnh có biển; các chuyên gia, nhà khoa học, hiệp hội ngành nghề, doanh nghiệp.
Diễn ra với 2 phiên làm việc gồm định hướng chiến lược và thảo luận chính sách, hội thảo tập trung làm rõ những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển kinh tế biển của Việt Nam hiện nay. Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và hội nhập quốc tế sâu rộng, yêu cầu hoàn thiện thể chế, chính sách về biển ngày càng trở nên cấp thiết.
Không chỉ là diễn đàn trao đổi giữa các cơ quan quản lý, nhà khoa học, chuyên gia và cộng đồng doanh nghiệp, hội thảo còn được kỳ vọng sẽ góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho quá trình rà soát, sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo cùng các chính sách liên quan. Qua đó, tạo dựng hành lang pháp lý đồng bộ, minh bạch, khơi thông nguồn lực và mở rộng dư địa phát triển cho các ngành kinh tế biển trong giai đoạn mới.Phát biểu khai mạc hội thảo, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho biết: Sau 8 năm triển khai Nghị quyết số 36 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam, nhiều cơ chế, chính sách quan trọng đã được ban hành, tạo nền tảng thúc đẩy các ngành kinh tế biển phát triển. Tuy nhiên, kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế to lớn của đất nước. Theo Thứ trưởng, Việt Nam sở hữu hơn 3.260 km bờ biển, vùng biển rộng khoảng 1 triệu km² cùng hơn 4.000 hòn đảo lớn nhỏ. Dù vậy, đóng góp của kinh tế biển vào tăng trưởng chung vẫn còn khiêm tốn. Một trong những nguyên nhân được chỉ ra là những điểm nghẽn kéo dài trong cơ chế quản lý, đặc biệt là tình trạng chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan quản lý nhà nước.Để khơi thông nguồn lực và tạo động lực mới cho kinh tế biển, TS. Vũ Mạnh Hùng, Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành (Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương), đề xuất 9 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững kinh tế biển Việt Nam trong giai đoạn mới. Trong đó, ông nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy và nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản trị biển. Theo đó, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vai trò, giá trị của biển; đồng thời chuyển mạnh từ phương thức quản lý theo ngành, lĩnh vực sang quản trị tổng hợp không gian biển dựa trên hệ sinh thái. Nhà nước cần phát huy vai trò kiến tạo phát triển, hoàn thiện cơ chế điều phối liên ngành đủ mạnh, bảo đảm phân định rõ trách nhiệm, nâng cao hiệu lực và hiệu quả thực thi trong quản lý, khai thác tài nguyên biển.Ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam cho rằng, việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng pháp lý mới cho quản trị biển hiện đại, qua đó khơi thông nguồn lực đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững. Một trong những điểm mới đáng chú ý của dự thảo luật là mở rộng phạm vi điều chỉnh từ quản lý tài nguyên, môi trường biển sang quản trị tổng hợp tài nguyên, không gian biển và môi trường biển. Cách tiếp cận này phản ánh quan điểm coi biển không chỉ là nguồn tài nguyên cần quản lý, mà còn là không gian phát triển đa ngành, đa mục tiêu, gắn với yêu cầu phát triển kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh và lợi ích chiến lược quốc gia.Chia sẻ tại hội thảo, ông Nguyễn Văn Công, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh cho biết: Địa phương có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế biển gắn với công nghiệp xanh, thương mại - dịch vụ và hệ thống cảng biển, từng bước đưa kinh tế biển trở thành động lực tăng trưởng quan trọng. Tuy nhiên, để chuyển hóa những tiềm năng đó thành giá trị kinh tế thực chất và bền vững vẫn là bài toán không dễ. Dù sở hữu hơn 250 km bờ biển, ngư trường rộng trên 6.100 km² cùng hơn 2.770 hòn đảo tự nhiên, Quảng Ninh hiện vẫn đối mặt với 4 "nút thắt" lớn về thể chế và cấu trúc phát triển, cần được tháo gỡ để khai thác hiệu quả hơn các nguồn lực từ biển.Tọa đàm hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vữngÔng Tạ Đình Thi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, Dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) sẽ sớm được Quốc hội cho ý kiến và xem xét thông qua. Dù khối lượng công việc còn lớn, quá trình xây dựng luật có nhiều thuận lợi khi được hỗ trợ bởi cơ sở chính trị, pháp lý, khoa học và thực tiễn ngày càng hoàn thiện.Các đại biểu tham dự Hội thảo Quốc gia với chủ đề “Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững”
Trong bối cảnh kinh tế biển được xác định là một trong những động lực quan trọng cho tăng trưởng quốc gia, việc hoàn thiện thể chế, chính sách không chỉ nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn hiện hữu mà còn tạo nền tảng cho mô hình quản trị biển hiện đại, hiệu quả và bền vững. Những ý kiến, đề xuất được đưa ra tại hội thảo sẽ là cơ sở quan trọng để các cơ quan chức năng tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về biển, khơi thông nguồn lực đầu tư, nâng cao năng lực khai thác và sử dụng tài nguyên biển.
Sáng 3/2, tại Khu di tích quốc gia đặc biệt quần thể Hương Sơn (tức chùa Hương, huyện Mỹ Đức, Hà Nội), Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức tổ chức khai hội chùa Hương xuân Ất Tỵ 2025. Hàng chục nghìn khách thập phương đã đổ về chùa Hương trong ngày khai mạc Lễ hội.
Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 25/6/2015. Sau gần 10 năm triển khai, bên cạnh những kết quả đạt được cũng bộc lộ một số hạn chế, bất cập, như: việc xây dựng các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật còn gặp nhiều khó khăn, chồng chéo với các văn bản quy phạm pháp luật khác; nguồn lực cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật còn hạn chế, chưa đáp ứng được với nhu cầu thực tiễn…
Các hệ sinh thái biển và ven biển không chỉ cô lập và lưu trữ một lượng lớn CO2, mà còn bảo vệ các bờ biển và cộng đồng khỏi tác động của biến đổi khí hậu; cung cấp thực phẩm, phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường sống của con người,... Do đó, việc bảo vệ đa dạng sinh học (ĐDSH) và hệ sinh thái biển là yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Công tác điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản cần được thực hiện đi trước một bước và phải tiến hành đồng thời với điều tra cơ bản địa chất, điều tra địa chất môi trường, địa chất tai biến, địa chất khoáng sản biển, nghiên cứu các chuyên đề về địa chất và khoáng sản trên lãnh thổ và lãnh hải; ưu tiên thực hiện các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Trong đó mục tiêu hàng đầu là: Lập bản đồ địa chất và điều tra khoáng sản tỷ lệ 1:500.000 đạt 90% diện tích đất liển và tỷ lệ 1:500.000 ở phần Lãnh hải đến độ sâu 100m nước, tỷ lệ 1:50.000 đến 1:100.000 một phần diện tích biển đới ven bờ đến độ sâu 0-30m nước nhằm làm rõ hơn về cấu trúc địa chất, mức độ phân bố khoáng sản và khoanh định các diện tích có triển vọng về khoáng sản làm cơ sở cho việc quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Trong bối cảnh và xu hướng phát triển năng lượng xanh và bền vững trên toàn cầu, điện gió ngoài khơi là “bệ phóng” cho phát triển kinh tế biển ở các quốc gia có biển. Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên điện gió biển đáng kể, được các nhà đầu tư quốc tế quan tâm, đặc biệt khi có các chính sách hỗ trợ mạnh mẽ từ Đảng và Nhà nước. Do đó, chúng ta cần có những định hướng chiến lược quan trọng trong việc khai thác nguồn năng lượng này, tạo động lực phát triển cho các ngành kinh tế biển, đồng thời giúp Việt Nam hướng tới mục tiêu trở thành trung tâm điện gió ngoài khơi của khu vực và thế giới. TS. Dư Văn Toán, Viện Khoa học môi trường, biển và hải đảo, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chia sẻ với phóng viên Tạp chí Tài nguyên và Môi trường xung quanh nội dung này.