
Trên cơ sở nhận diện nguy cơ khoảng trống thông tin, bài viết phân tích một số lát cắt thực tiễn tiêu biểu của ngành; từ đó đề xuất hệ giải pháp nhằm giữ quyền chủ động trong định hướng xã hội, củng cố đồng thuận, tăng cường niềm tin của nhân dân và góp phần bảo vệ vững chắc vai trò lãnh đạo của Đảng trong tình hình mới.



Trong môi trường truyền thông số, thách thức đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ đến từ các quan điểm sai trái, thù địch, mà ngày càng đến từ độ trễ của nguồn dữ liệu chính thống trong quá trình quản lý, điều hành và truyền thông chính sách. Khi thông tin từ cơ quan quản lý xuất hiện sau tốc độ lan truyền của dư luận, những cách hiểu phiến diện, suy diễn cảm tính và nội dung thiếu kiểm chứng rất dễ chiếm lĩnh nhận thức xã hội, từ đó tác động trực tiếp đến lòng tin của nhân dân.
Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là phản bác các thông tin sai lệch sau khi đã lan rộng, mà quan trọng hơn là phải đổi mới toàn diện nội dung và phương thức thông tin, tuyên truyền trên báo chí và các nền tảng số; giữ vững thế chủ động của nguồn tin chủ đạo; đồng thời hình thành một hệ sinh thái số và thế trận thông tin liên hoàn đủ sức dẫn dắt dư luận xã hội. Đây cũng là hướng tiếp cận lý luận và thực tiễn mà bài viết lựa chọn để phân tích từ thực tiễn ngành Nông nghiệp và Môi trường [6].
Tinh thần Đại hội XIV của Đảng tiếp tục đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực quản trị quốc gia trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và dữ liệu [5]. Từ đó, trong bối cảnh hiện nay, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không thể chỉ dừng ở phản bác khi thông tin sai đã lan rộng, mà phải bắt đầu từ năng lực tổ chức để dòng dữ liệu chuẩn xác của cơ quan quản lý luôn hiện diện đúng thời điểm, có căn cứ và bám sát điều xã hội cần biết.


Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là phản bác các thông tin sai lệch sau khi đã lan rộng, mà quan trọng hơn là phải đổi mới toàn diện nội dung và phương thức thông tin, tuyên truyền trên báo chí và các nền tảng số. Ảnh minh họa

Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với ngành Nông nghiệp và Môi trường - lĩnh vực gắn trực tiếp với thiên tai, môi trường, đất đai, nguồn nước, nông sản, sinh kế và đời sống nhân dân. Từ thực tiễn của ngành có thể khẳng định: Giữ cho mạch dữ liệu chính thống luôn thông suốt, thống nhất và phù hợp với mối quan tâm của xã hội là điều kiện tiên quyết để ngăn khoảng trống nhận thức, hóa giải suy diễn dẫn dắt dư luận và không để khoảng trống thông tin chuyển hóa thành khoảng trống niềm tin.
Đó không chỉ là yêu cầu nghiệp vụ của công tác thông tin, truyền thông, mà còn là yêu cầu chính trị gắn với hiệu lực quản lý nhà nước, năng lực lãnh đạo của Đảng và sự đồng thuận xã hội; đồng thời đặt ra yêu cầu phải nhận diện rõ những dạng khoảng trống thông tin đang hình thành trong môi trường số hiện nay.



Từ góc nhìn quản trị truyền thông số, khoảng trống thông tin không còn là độ trễ nghiệp vụ đơn thuần, mà có thể rất nhanh chuyển hóa thành nguy cơ chính trị nếu không được nhận diện và xử lý kịp thời. Đặc trưng của không gian mạng là tốc độ hình thành nhận thức xã hội diễn ra rất nhanh; chỉ một độ chậm nhỏ trong việc cung cấp dữ liệu về thiên tai, ô nhiễm môi trường, biến động giá nông sản, nguồn nước, đất đai hay sinh kế người dân cũng đủ để tạo ra một vòng xoáy suy diễn trên các nền tảng số.
Điều đáng lưu ý là trong nhiều trường hợp, xã hội không suy giảm niềm tin vì bản thân sự việc quá nghiêm trọng, mà vì không tìm thấy nguồn tin chủ đạo đủ sớm, không thấy đầu mối chịu trách nhiệm rõ ràng hoặc không được giải thích đúng điều mình đang lo lắng nhất. Khi đó, sự thiếu vắng dữ liệu có kiểm chứng rất dễ chuyển hóa thành khoảng trống nhận thức; còn khoảng trống nhận thức, nếu kéo dài, sẽ dần bào mòn lòng tin công chúng.
Đây cũng là điểm gắn trực tiếp với yêu cầu tháo gỡ các “điểm nghẽn”, “nút thắt” trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh chuyển đổi số [6]. Nếu trước đây nhiệm vụ này chủ yếu được hình dung qua đấu tranh phản bác trên bình diện quan điểm và lập luận, thì ngày nay cần được nhìn rộng hơn như một năng lực tổng hợp: phát hiện sớm nguy cơ, tổ chức dòng dữ liệu thống nhất và dẫn dắt nhận thức xã hội ngay từ thời điểm đầu tiên của chu kỳ thông tin.
Trong điều kiện hiện nay, sự cạnh tranh trên mặt trận tư tưởng không chỉ diễn ra giữa đúng và sai về nội dung, mà còn giữa dữ liệu có kiểm chứng và thông tin cảm tính; giữa nguồn tin chủ đạo và những bình luận thiếu căn cứ; giữa sự thật được tổ chức bài bản với suy diễn lan truyền theo cảm xúc đám đông. Khi dữ liệu chuẩn xác chậm một nhịp, dư luận có thể bị đẩy sang một hướng khác; khi cơ quan quản lý chưa kịp lý giải, mạng xã hội có thể đã tự tạo ra “kết luận”; khi thông điệp chủ đạo chưa đủ rõ, những cách hiểu phiến diện rất dễ trở thành nhận thức phổ biến.


Cổng thông tin điện tử Bộ Nông nghiệp và Môi trường - hạ tầng neo nguồn trong tổ chức dòng dữ liệu chủ đạo và kết nối hệ sinh thái thông tin số ngành.

Đối với ngành Nông nghiệp và Môi trường, nguy cơ này càng rõ nét bởi đây là lĩnh vực gắn trực tiếp với những vấn đề thiết thân của đời sống: Thiên tai, bão lũ, hạn hán, xâm nhập mặn, ô nhiễm môi trường, đất đai, nguồn nước, sản xuất nông nghiệp, thị trường nông sản, giảm nghèo và phát triển nông thôn. Đây đều là những vấn đề mà xã hội không chỉ cần biết “đã xảy ra chuyện gì”, mà cần được trả lời ngay: Mức độ ảnh hưởng đến đâu, trách nhiệm thuộc về ai, giải pháp của Nhà nước là gì và quyền lợi của người dân được bảo đảm ra sao.
Thực tiễn vận hành Bộ Nông nghiệp và Môi trường sau hợp nhất càng cho thấy rõ yêu cầu này. Những vấn đề tưởng như riêng lẻ như: Nông nghiệp, tài nguyên nước, môi trường, đất đai, giảm nghèo hay chuyển đổi xanh ngày càng đòi hỏi phải được lý giải trong một chỉnh thể thống nhất. Nếu dữ liệu chưa đồng bộ, đầu mối cung cấp chưa rõ hoặc thông điệp của cơ quan quản lý chưa thống nhất, thì áp lực truyền thông rất dễ chuyển hóa thành áp lực niềm tin đối với bộ máy quản lý mới. Chính vì vậy, khoảng trống thông tin, nếu không được nhận diện đúng, không chỉ phản ánh sự chậm trễ trong truyền thông chính sách, mà còn là dấu hiệu của nguy cơ suy giảm tính chủ động trong quản trị xã hội.
Ở bình diện lý luận, có thể khẳng định rằng: Trong kỷ nguyên số, giữ cho dòng dữ liệu chính thống không chậm hơn suy diễn xã hội chính là một phương thức mới để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Từ nhận diện đó, vấn đề cần được kiểm chứng không chỉ ở bình diện lý luận, mà phải được soi chiếu bằng thực tiễn tổ chức báo chí, truyền thông và quản trị dữ liệu trong những lĩnh vực gắn trực tiếp với đời sống nhân dân.



Giai đoạn 2025-2026 cho thấy rất rõ tính đúng đắn của nhận diện nêu trên: càng là những vấn đề gắn trực tiếp với sinh kế và đời sống nhân dân, nếu dòng thông tin chủ đạo được tổ chức đúng đầu mối, kịp thời và dựa trên dữ liệu đủ tin cậy, thì không chỉ giữ được thế chủ động trong định hướng xã hội, mà còn trực tiếp củng cố sự đồng thuận của công chúng.
Từ thực tiễn tham mưu, điều phối báo chí, phát ngôn và tổ chức vận hành hệ thống thông tin của Bộ sau thời điểm hợp nhất, có thể thấy yêu cầu duy trì dòng dữ liệu chuẩn xác chưa bao giờ đặt ra trực diện như hiện nay. Trong vai trò cơ quan tham mưu tổng hợp, trực tiếp giúp Lãnh đạo Bộ điều phối công tác thông tin, truyền thông, báo chí, phát ngôn và quản trị Cổng thông tin điện tử, Văn phòng Bộ chính là đầu mối giữ nhịp dòng thông tin chủ đạo của toàn ngành. Dù nguồn lực còn hạn chế, đơn vị vẫn duy trì đều đặn hệ thống điểm báo, tổng hợp phản ánh xã hội, chuẩn bị nội dung cho các kỳ họp báo định kỳ và nhiều hoạt động truyền thông lớn; đồng thời bảo đảm Cổng thông tin điện tử Bộ vận hành ổn định với hàng nghìn tin, bài cùng hàng trăm văn bản, dữ liệu được công khai theo quy định [7].
Đáng chú ý hơn, từ khi chính thức vận hành đồng bộ hệ thống tiếng Việt, tiếng Anh và Trang Tin Bộ trưởng từ ngày 01/3/2025, Cổng không còn chỉ là một kênh công bố theo nghĩa truyền thống, mà từng bước trở thành điểm truy cập tập trung của toàn bộ hệ sinh thái số ngành, nơi các thông điệp chỉ đạo điều hành, dữ liệu nghiệp vụ cốt lõi, dịch vụ công trực tuyến, hệ thống cảnh báo và các cơ sở dữ liệu hợp nhất từ hai Bộ tiền thân được kết nối trên cùng một hạ tầng. Chính quá trình chuyển dần từ chức năng đăng tải một chiều sang vai trò cửa ngõ tương tác với người dân, doanh nghiệp và các hoạt động tham vấn chính sách đã làm nổi bật hơn giá trị của quản trị chủ động: không chỉ giữ cho thông tin đi đúng mạch, mà còn góp phần hình thành một “hạ tầng tổ chức niềm tin số”, qua đó củng cố đồng thuận và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Trong dòng vận hành đó, những tình huống truyền thông và điều hành nổi bật của giai đoạn gần đây chỉ là các lát cắt tiêu biểu, nhưng đủ cho thấy rõ cách thức mà năng lực tổ chức dữ liệu, báo chí và phản hồi chính sách đang trực tiếp tham gia vào việc giữ nhịp nhận thức xã hội. Chính ở những vấn đề càng gần với sản xuất, sinh kế, thiên tai và môi trường, giá trị của việc để dòng dữ liệu chủ đạo đi trước một bước càng được kiểm chứng rõ hơn.


Từ hạ tầng số đến tổ chức phát ngôn: Hai lớp bảo đảm dòng dữ liệu chủ đạo đi trước một bước.

Nếu Cổng thông tin điện tử là “hạ tầng neo nguồn”, thì các tình huống điều hành gắn trực tiếp với sản xuất và sinh kế lại là nơi giá trị của dòng dữ liệu chủ đạo được kiểm chứng rõ nhất. Tại họp báo thường kỳ tháng 3, quý I năm 2026 của Bộ, nội dung về tăng trưởng toàn ngành và xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đã trở thành tâm điểm chú ý của báo chí và xã hội [1]. Ngay tại họp báo, số liệu công bố cho thấy GDP toàn ngành 3 tháng đầu năm ước đạt 3,5-3,7%, xuất khẩu tháng 3 tăng 47,8% so với tháng trước, trong khi quý I vẫn duy trì mức tăng gần 6% trong bối cảnh những rủi ro từ xung đột địa chính trị và đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu. Điều đáng chú ý là, cùng với các con số tăng trưởng, Bộ đã chủ động làm rõ ngay các áp lực thị trường, chi phí logistics, rào cản kỹ thuật và phương án ứng phó theo từng nhóm ngành hàng. Việc chuẩn bị kỹ số liệu, thống nhất đầu mối cung cấp và đi trước một bước trong giải thích bối cảnh đã giúp nhiều vấn đề dễ gây suy diễn được hóa giải ngay từ đầu.
Cùng logic đó, công tác truyền thông chuyên đề về thiên tai, hạn hán và xâm nhập mặn trong mùa khô năm 2026 tại một số khu vực trọng điểm tiếp tục cho thấy vai trò của việc xuất hiện sớm bằng dữ liệu có kiểm chứng [2]. Trong bối cảnh người dân, địa phương và báo chí đặc biệt quan tâm đến nguy cơ thiếu nước, việc cung cấp sớm các thông tin về dự báo nguồn nước, kịch bản ứng phó, điều tiết liên hồ chứa, phương án chuyển đổi sản xuất và giải pháp bảo đảm nước sinh hoạt đã giúp định hướng xã hội ngay từ đầu. Nhờ đó, mối quan tâm của công chúng dần chuyển từ lo lắng, đồn đoán sang đồng thuận với các giải pháp ứng phó và chia sẻ với khó khăn khách quan của thiên nhiên.


Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến chủ trì các cuộc họp báo thường kỳ trong quý I năm 2026. Ảnh Khương Trung

Không chỉ với các vấn đề tăng trưởng hay thiên tai, họp báo đầu tháng 4/2026 còn cho thấy rõ giá trị của việc xử lý các điểm nóng ngay từ đầu nguồn dữ liệu. Những vấn đề như vụ việc 3.600 con lợn nhiễm bệnh bị tiêu thụ, hay vụ can thiệp dữ liệu tại 168 trạm quan trắc môi trường, đều là các chủ đề có nguy cơ tác động trực tiếp đến lòng tin công chúng nếu thiếu phản hồi kịp thời. Khi đại diện các đơn vị chuyên môn chủ động nói thẳng về trách nhiệm quản lý, chỉ rõ lỗ hổng trong tổ chức thực hiện và công bố ngay giải pháp khắc phục, dòng tin báo chí đã nhanh chóng chuyển từ hoài nghi sang theo dõi các biện pháp xử lý. Điều đó cho thấy, trong môi trường số, minh bạch dữ liệu không chỉ là yêu cầu nghiệp vụ, mà còn là phương thức trực tiếp để giữ vững độ tin cậy xã hội.
Mạch đó tiếp tục được nối dài ở cấp cơ sở thông qua việc triển khai Nghị định số 49/2024/NĐ-CP về hoạt động thông tin cơ sở trong toàn ngành [3, 4]. Hoạt động này đang từng bước được tích hợp vào chính hệ thống thông tin chuyên ngành của Bộ, từ tài nguyên nước, địa chất - khoáng sản, lâm nghiệp, chăn nuôi, thú y, thủy sản đến phòng chống thiên tai và khí tượng thủy văn. Đặc biệt, Cổng thông tin điện tử của Bộ và các đơn vị trực thuộc đã trở thành kênh chủ lực, từng bước hình thành cơ chế hỏi - đáp và xử lý phản ánh theo hướng tương tác hai chiều với người dân và doanh nghiệp. Từ đó, mạng lưới cung cấp dữ liệu đa lĩnh vực đang dần được định hình như một hệ sinh thái thông tin cơ sở số, bảo đảm nội dung thiết yếu được truyền dẫn nhanh, đúng trọng tâm và sát nhu cầu thực tiễn.
Từ những lát cắt trên có thể thấy, điều giữ ổn định xã hội không chỉ nằm ở bản thân chính sách hay giải pháp kỹ thuật, mà trước hết ở khả năng để sự thật xuất hiện đủ sớm, đủ rõ và đủ gần với mối quan tâm của người dân. Từ đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là xử lý tốt hơn từng tình huống cụ thể, mà phải chuyển mạnh sang tư duy kiến tạo một cơ chế quản trị chủ động, liên thông, có khả năng dự báo sớm và đủ năng lực không để khoảng trống thông tin xuất hiện.



Từ những kiểm chứng trong thực tiễn, yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là phản ứng nhanh trước từng vụ việc, mà phải chủ động thiết lập một cơ chế để dòng dữ liệu chuẩn xác của cơ quan quản lý luôn được duy trì liên tục, không lệch nhịp với nhu cầu nhận thức của xã hội và không để khoảng trống ban đầu bị lấp đầy bởi suy diễn.
Trước hết, cần xây dựng cơ chế nhận diện sớm các điểm nóng thông tin trên cơ sở giám sát phản ánh xã hội trong môi trường số, dự báo phản ứng công chúng và chuẩn bị sẵn các gói dữ liệu nền cho những nhóm vấn đề lớn của ngành như thiên tai, môi trường, nguồn nước, thị trường nông sản, giảm nghèo, nông thôn mới và chuyển đổi xanh. Chỉ khi cơ quan quản lý có khả năng dự báo trước những nội dung xã hội sẽ quan tâm, mới có thể chủ động xuất hiện trước khi những diễn giải thiếu căn cứ chiếm lĩnh không gian nhận thức. Đây cũng là cách tháo gỡ các “điểm nghẽn”, “nút thắt” trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng [6].
Tiếp đó, trong mô hình Bộ quản lý đa ngành sau hợp nhất, cần giữ vững nguyên tắc một đầu mối, một số liệu thống nhất, một thông điệp xuyên suốt. Chỉ khi dữ liệu được chuẩn hóa, trách nhiệm cung cấp rõ ràng và phát ngôn được thống nhất, mới có thể ngăn sự thiếu đồng bộ trong cung cấp thông tin chuyển hóa thành suy giảm độ tin cậy công chúng. Đây không chỉ là yêu cầu kỹ thuật của quản trị dữ liệu, mà còn là điều kiện của kỷ luật thông tin trong quản lý nhà nước hiện đại.


Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng và Thứ trưởng Thường trực Trịnh Việt Hùng chủ trì Hội nghị trực tiếp và trực tuyến giao ban công tác Quý I, triển khai nhiệm vụ trọng tâm Quý II năm 2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ngày 02/4/2026. Ảnh Khương Trung

Một giải pháp có ý nghĩa quyết định là phát huy mạnh hơn giá trị của “giờ vàng thông tin” thông qua họp báo định kỳ, cung cấp thông tin chuyên đề, phản hồi nhanh với báo chí, phát huy vai trò người phát ngôn và nâng cao năng lực của Cổng thông tin điện tử như hạ tầng “neo nguồn” của Bộ. Trong điều kiện cạnh tranh thông tin theo thời gian thực, khác biệt giữa thế chủ động và bị động nhiều khi chỉ nằm ở vài giờ đầu của chu kỳ thông tin. Vì vậy, họp báo, chuyên đề và cơ chế phối hợp báo chí phải được nhìn nhận không chỉ là nghiệp vụ truyền thông, mà là công cụ giữ quyền dẫn dắt xã hội từ sớm.
Cùng với đó, cần tiếp tục củng cố hệ thống thông tin cơ sở để bảo đảm nội dung chính thống được truyền dẫn nhanh đến tận người dân, nhất là tại các khu vực dễ bị tác động bởi thiên tai, biến đổi khí hậu, khó khăn sinh kế hoặc còn hạn chế tiếp cận thông tin số. Khi dữ liệu chuẩn xác không đến được cơ sở, luồng dữ liệu của toàn hệ thống sẽ bị đứt ở mắt xích quan trọng nhất. Vì vậy, củng cố thông tin cơ sở cũng chính là củng cố nền móng của đồng thuận xã hội và từng bước hình thành thế trận thông tin liên hoàn từ Trung ương đến cơ sở [3, 4].
Ở chiều sâu hơn, cần nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác thông tin, truyền thông theo hướng vững chính trị, chắc dữ liệu, nhạy dư luận và giỏi xử lý khủng hoảng truyền thông. Trong bối cảnh mới, người làm truyền thông chính sách không chỉ là người đưa tin, mà phải là người hiểu chính sách, nắm thực tiễn, đọc được tâm lý xã hội và biết tổ chức để sự thật xuất hiện đủ sớm, đủ rõ và dễ lan tỏa. Đây không chỉ là câu chuyện kỹ năng nghề nghiệp, mà còn là yêu cầu nâng cao năng lực kiến tạo nhận thức và thống nhất tư tưởng trong toàn hệ thống.
Quan trọng hơn, cần tiếp tục đổi mới nhận thức: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên số không chỉ là đấu tranh với những gì sai trái đã hiện hình, mà còn là năng lực không để sự thật đến chậm hơn nhu cầu nhận thức của xã hội. Đây là yêu cầu cần được quán triệt trong toàn bộ hoạt động thông tin, truyền thông của các cơ quan nhà nước nói chung và của ngành Nông nghiệp và Môi trường nói riêng.



Từ thực tiễn ngành Nông nghiệp và Môi trường có thể khẳng định: Trong bối cảnh chuyển đổi số sâu rộng, nếu không được nhận diện và xử lý kịp thời, sự thiếu vắng nguồn dữ liệu có kiểm chứng rất dễ tạo ra khoảng trống niềm tin, từ đó dẫn tới những hệ lụy trực tiếp đối với hiệu lực quản lý nhà nước và sự đồng thuận xã hội.
Những lát cắt thực tiễn năm 2026 - từ họp báo quý I về tăng trưởng và xuất khẩu nông, lâm, thủy sản; công tác truyền thông chuyên đề về thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn; đến xử lý các điểm nóng liên quan an toàn thực phẩm và dữ liệu quan trắc môi trường - đều cho thấy một quy luật nhất quán: Khi cơ quan quản lý xuất hiện sớm bằng số liệu đủ tin cậy, giải thích trúng điều xã hội quan tâm và duy trì được sự thống nhất trong cung cấp thông tin, thì không chỉ ngăn ngừa được suy diễn, mà còn trực tiếp củng cố niềm tin vào năng lực điều hành của Nhà nước.
Suy cho cùng, giữ cho dòng dữ liệu chủ đạo của cơ quan quản lý luôn hiện diện đúng thời điểm, đúng vấn đề và đúng điều người dân cần biết chính là giữ vững nền tảng nhận thức xã hội. Từ nền tảng đó mới có thể bồi đắp đồng thuận, củng cố niềm tin của nhân dân và bảo vệ vững chắc vai trò lãnh đạo của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới.


Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng dự và chỉ đạo Hội nghị toàn quốc về chuyển đổi số nông nghiệp và môi trường năm 2025 do Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức tại Thành phố Đà Nẵng. Ảnh: Cục Chuyển đổi số.

TS. PHẠM NGỌC ANH - Văn phòng Bộ Nông nghiệp và Môi trường
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026). Tài liệu họp báo thường kỳ tháng 3, quý I năm 2026; điểm báo và tổng hợp thông tin báo chí về tăng trưởng, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản và các vấn đề dư luận quan tâm.
[2] Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026). Tài liệu thông tin chuyên đề về thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn mùa khô năm 2026; phương án điều tiết nguồn nước, liên hồ chứa và bảo đảm nước sinh hoạt, sản xuất.
[3] Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026). Báo cáo rà soát, đánh giá việc triển khai công tác thông tin cơ sở trong toàn ngành.
[4] Chính phủ (2024). Nghị định số 49/2024/NĐ-CP ngày 10/5/2024 về hoạt động thông tin cơ sở.
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
[6] Đảng ủy Chính phủ (2026). Phụ lục định hướng chủ đề Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Đảng bộ Chính phủ lần thứ 2, năm 2026, Nhóm 3: Đổi mới nội dung, phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh chuyển đổi số.
[7] Văn phòng Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026). Báo cáo công tác thông tin, truyền thông; quản trị, vận hành Cổng thông tin điện tử Bộ Nông nghiệp và Môi trường và các trang thành phần.