Kỳ 2 (kỳ cuối): Từ dịch vụ môi trường rừng đến thị trường carbon - Mở rộng nguồn lực cho phát triển lâm nghiệp bền vững

Kỳ 2 (kỳ cuối): Từ dịch vụ môi trường rừng đến thị trường carbon - Mở rộng nguồn lực cho phát triển lâm nghiệp bền vững

Chủ nhật, 7/6/2026, 07:42 (GMT+7)
logo Sau khi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng khẳng định hiệu quả trong huy động nguồn lực xã hội cho bảo vệ và phát triển rừng, ngành lâm nghiệp Việt Nam đang đứng trước một không gian phát triển mới. Trong bối cảnh Việt Nam cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, những giá trị hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng đang từng bước được nhận diện đầy đủ hơn, mở ra cơ hội hình thành các nguồn tài chính xanh, góp phần nâng cao giá trị rừng và thúc đẩy phát triển lâm nghiệp bền vững.
z7660256720656_03b0091c6186fbf784c35abfa887b933-1400x787-1_1780479510.jpg
Tại Hội nghị đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2025 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2026, ông Trần Quang Bảo - Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam, Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm nhấn mạnh: sau hơn một thập kỷ triển khai, chính sách chi trả DVMTR đã khẳng định là cơ chế tài chính bền vững, hiệu quả, góp phần quan trọng vào bảo vệ tài nguyên rừng, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển sinh kế cho người dân. Năm 2025 cũng tiếp tục ghi dấu nhiều kết quả tích cực trong thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính từ rừng như ERPA Bắc Trung Bộ, Chương trình giảm phát thải vùng Tây Nguyên và Nam Trung Bộ… Trong thời gian tới, với nền tảng đã được xây dựng và sự đồng hành của các bên liên quan, chính sách DVMTR cùng hệ thống Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng sẽ tiếp tục phát huy vai trò cầu nối tài chính, kết nối lợi ích giữa doanh nghiệp và người dân bảo vệ rừng, hướng tới xây dựng nền kinh tế lâm nghiệp hiện đại, bền vững và hội nhập quốc tế.

 

Từ “lá phổi xanh” đến bể hấp thụ carbon của quốc gia

Nếu ở Kỳ 1, chi trả dịch vụ môi trường rừng được nhìn nhận như một công cụ tài chính hiệu quả giúp bảo vệ khoảng 7,45 triệu ha rừng trên cả nước, thì trong giai đoạn hiện nay, vai trò của rừng đang được mở rộng sang một lĩnh vực hoàn toàn mới: hấp thụ và lưu giữ các-bon.

Trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu toàn cầu, rừng được xem là một trong những giải pháp tự nhiên hiệu quả nhất. Thông qua quá trình quang hợp, cây rừng hấp thụ khí CO₂ từ khí quyển và lưu giữ trong sinh khối thực vật, thảm mục và đất rừng. Đây là cơ chế tự nhiên giúp giảm lượng khí nhà kính trong khí quyển, góp phần hạn chế tốc độ nóng lên toàn cầu. Những nghiên cứu về dịch vụ môi trường rừng cho thấy khả năng hấp thụ và lưu giữ các-bon chính là một trong những giá trị sinh thái quan trọng nhất của rừng trong bối cảnh hiện nay.

Theo Quyết định công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Việt Nam hiện có hơn 14,97 triệu ha rừng, tỷ lệ che phủ đạt 42,03%. Đây không chỉ là nguồn tài nguyên sinh thái quý giá mà còn là nền tảng quan trọng để Việt Nam thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

Không gian phát triển mới của ngành lâm nghiệp không chỉ đến từ sản xuất lâm sản hay các loại hình dịch vụ môi trường rừng truyền thống. Theo báo cáo tổng kết năm 2025 của Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, bên cạnh nguồn thu gần 3.940 tỷ đồng từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, ngành lâm nghiệp còn ghi nhận thêm nguồn thu khoảng 131 tỷ đồng từ việc chuyển nhượng bổ sung 1 triệu tấn CO₂ giảm phát thải còn dư thuộc Chương trình giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ giai đoạn 2018-2019. Đây là minh chứng rõ nét cho thấy các giá trị hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng đang từng bước được hiện thực hóa thành nguồn lực tài chính phục vụ công tác bảo vệ và phát triển rừng.

Nhìn ở góc độ rộng hơn, điều này cũng phản ánh xu hướng chuyển dịch của ngành lâm nghiệp từ khai thác các giá trị hữu hình sang khai thác tổng hợp các giá trị đa dụng của hệ sinh thái rừng. Nếu như trước đây rừng được đánh giá chủ yếu thông qua diện tích, trữ lượng gỗ hay sản lượng lâm sản ngoài gỗ thì ngày nay, những giá trị vô hình như hấp thụ các-bon, bảo tồn đa dạng sinh học, điều hòa khí hậu hay cung cấp dịch vụ hệ sinh thái đang ngày càng được lượng hóa thành các nguồn lực phát triển.

180735trong-rung-bach-dan-cu-vy-o-xa-ya-tang-huyen-sa-thay-1702598319252301733_1780479628.jpg
Rừng trồng sản xuất không chỉ tạo nguồn nguyên liệu cho ngành chế biến gỗ mà còn góp phần gia tăng khả năng hấp thụ và lưu giữ các-bon, đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng xanh

Mở rộng giá trị từ rừng trong kỷ nguyên tăng trưởng xanh

Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã chủ động tham gia các sáng kiến toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính từ lĩnh vực lâm nghiệp. Một trong những dấu mốc quan trọng nhất là việc ký kết Thỏa thuận chi trả giảm phát thải khí nhà kính vùng Bắc Trung Bộ (ERPA) với Ngân hàng Thế giới.

Đây là chương trình đầu tiên của Việt Nam chuyển hóa kết quả giảm phát thải từ rừng thành nguồn tài chính thực tế. Theo thỏa thuận, Việt Nam chuyển nhượng 10,3 triệu tấn CO₂ giảm phát thải từ rừng tại 6 tỉnh Bắc Trung Bộ cho Ngân hàng Thế giới với tổng giá trị 51,5 triệu USD. Sau khi kết quả giảm phát thải được xác minh, Ngân hàng Thế giới đã hoàn tất thanh toán cho Việt Nam vào năm 2024.

Đến năm 2025, Chính phủ tiếp tục cho phép chuyển nhượng bổ sung thêm 1 triệu tấn CO₂ giảm phát thải còn dư, mang về khoảng 5 triệu USD, tương đương hơn 131 tỷ đồng. Như vậy, tổng nguồn tài chính huy động từ chương trình ERPA đã đạt khoảng 56,5 triệu USD.

Theo Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam, Chương trình ERPA được triển khai trên hơn 2,15 triệu ha rừng tự nhiên tại các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị và thành phố Huế, với gần 69.000 đối tượng hưởng lợi là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng tham gia quản lý, bảo vệ rừng. Nguồn kinh phí từ chương trình được sử dụng cho các hoạt động khoán bảo vệ rừng, hỗ trợ sinh kế, đầu tư các công trình cộng đồng, tập huấn nâng cao năng lực và nhiều hoạt động khác nhằm tăng cường hiệu quả quản lý rừng bền vững.

Đáng chú ý, theo các đánh giá được công bố tại Hội thảo tham vấn đánh giá hiệu quả Chương trình ERPA Bắc Trung Bộ do Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm tổ chức cuối năm 2025, tổng lượng giảm phát thải được tạo ra trong giai đoạn 2018-2019 đạt tới 16,2 triệu tấn CO₂ tương đương, vượt xa khối lượng đã cam kết chuyển nhượng. Sau các giao dịch đã thực hiện, Việt Nam vẫn còn khoảng 4,9 triệu tấn CO₂ giảm phát thải có thể tiếp tục được nghiên cứu sử dụng hoặc thương mại hóa trong thời gian tới.

Thành công bước đầu của ERPA không chỉ mang ý nghĩa tài chính. Quan trọng hơn, chương trình đã chứng minh rằng những giá trị hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng hoàn toàn có thể trở thành một nguồn lực bổ sung cho công tác bảo vệ và phát triển rừng.

Theo Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam, nguồn tài chính từ chuyển nhượng giảm phát thải đã góp phần bổ sung trung bình trên 160.000 đồng/ha/năm ngoài nguồn ngân sách nhà nước cho công tác bảo vệ và phát triển rừng. Đây là nguồn lực có ý nghĩa đặc biệt đối với các địa phương miền núi và các cộng đồng đang trực tiếp tham gia quản lý rừng.

Không chỉ dừng lại ở Bắc Trung Bộ, Việt Nam đang tiếp tục triển khai các chương trình giảm phát thải quy mô lớn khác. Theo các tài liệu của Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, chương trình giảm phát thải vùng Tây Nguyên và Nam Trung Bộ dự kiến tạo ra khoảng 20 triệu tấn CO₂ giảm phát thải trong giai đoạn 2021-2025. Trong đó, Việt Nam đã có kế hoạch chuyển nhượng 5,15 triệu tấn CO₂ cho Liên minh LEAF/Emergent. Những kết quả này cho thấy giá trị hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng đang dần trở thành một cấu phần quan trọng trong nền kinh tế lâm nghiệp đa giá trị mà Việt Nam đang hướng tới.

z7660256690650_bf121a437960e9bf00161b2889b12569-1400x787_1780479783.jpg
Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam đánh giá kết quả thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và các cơ chế tài chính cho lâm nghiệp năm 2025

Chuẩn bị nền tảng cho thị trường carbon rừng

Sự phát triển của các cơ chế giảm phát thải từ rừng đang diễn ra song song với quá trình xây dựng thị trường carbon quốc gia. Ngày 24/1/2025, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 232/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thành lập và phát triển thị trường carbon tại Việt Nam. Theo lộ trình được phê duyệt, từ năm 2025 đến hết năm 2028 Việt Nam sẽ vận hành thí điểm thị trường carbon; từ năm 2029 chính thức vận hành thị trường carbon quốc gia.

Đối với ngành lâm nghiệp, đây là cơ hội đặc biệt quan trọng. Bởi khác với nhiều lĩnh vực phát thải khác, lâm nghiệp là lĩnh vực có khả năng hấp thụ khí nhà kính ở quy mô lớn. Nhiều nghiên cứu trong nước và quốc tế cho thấy rừng Việt Nam có tiềm năng hấp thụ và lưu giữ các-bon rất đáng kể. Một số loại rừng trồng ở Việt Nam có khả năng hấp thụ từ 15 đến hơn 40 tấn CO₂/ha/năm tùy theo loài cây và điều kiện sinh trưởng.

Nhận thức rõ tiềm năng này, ngành lâm nghiệp đang từng bước hoàn thiện các điều kiện cần thiết cho thị trường carbon rừng. Hệ thống theo dõi diễn biến rừng, cơ sở dữ liệu tài nguyên rừng, công nghệ viễn thám, GIS, kiểm kê khí nhà kính và các phương pháp đo đạc, báo cáo, thẩm định kết quả giảm phát thải đang được tiếp tục hoàn thiện.

Đặc biệt, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang nghiên cứu xây dựng Nghị định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng nhằm tạo hành lang pháp lý thống nhất trên phạm vi cả nước. Theo dự thảo báo cáo sơ kết thực hiện Nghị định 107/2022/NĐ-CP, nghị định mới sẽ mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với các hoạt động giao dịch, chuyển nhượng kết quả giảm phát thải và tín chỉ các-bon rừng; đồng thời tạo điều kiện để các địa phương, tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng tham gia hiệu quả hơn vào thị trường carbon trong tương lai.

Theo định hướng của Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, cùng với chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, các cơ chế tài chính xanh và thị trường carbon được kỳ vọng sẽ tạo thêm nguồn lực cho công tác bảo vệ, phát triển rừng, đồng thời góp phần thực hiện các cam kết giảm phát thải khí nhà kính của Việt Nam.

Nếu chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã giúp biến những giá trị sinh thái của rừng thành nguồn lực cho công tác bảo vệ và phát triển rừng, thì các cơ chế giảm phát thải và thị trường carbon đang mở ra một bước phát triển cao hơn: đưa giá trị hấp thụ khí nhà kính của rừng tham gia vào chuỗi giá trị của nền kinh tế xanh.

Từ những cánh rừng đầu nguồn ở Bắc Trung Bộ đến các khu rừng đặc dụng, phòng hộ trên cả nước, màu xanh của rừng không chỉ được gìn giữ cho hôm nay mà còn đang tạo dựng những cơ hội phát triển mới cho tương lai. Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, mỗi hecta rừng không chỉ là lá chắn sinh thái bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và sinh kế cộng đồng, mà còn là một “tài sản môi trường” có giá trị.

Khi những giá trị đó được nhận diện đầy đủ và phát huy hiệu quả, rừng sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong hành trình tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và nâng cao vị thế của Việt Nam trong nỗ lực ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu.

 

Hồng Minh