Kỳ 3: Từ nông thôn mới đến quốc gia phát triển, con người là trung tâm của mọi chính sách

Thứ hai, 5/1/2026, 09:20 (GMT+7)
logo Nếu Kỳ 2 là câu chuyện “đại phẫu” thể chế để bộ máy tự làm mới và kiến tạo phát triển, thì Kỳ 3 là lát cắt đi thẳng vào nơi mọi chính sách phải chạm tới đời sống người dân. Bởi suy cho cùng, cải cách sẽ trở nên vô nghĩa nếu không biến thành con đường sạch hơn, trường lớp gần hơn, nước sạch đầy hơn, sinh kế bền hơn và cơ hội công bằng hơn cho những vùng khó nhất.

 

Tại hội nghị tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026 của ngành Nông nghiệp và Môi trường đã diễn ra ngày 31/12/2025, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đến dự và chỉ đạo tại Hội nghị, tại đây Thủ tướng đã nhấn mạnh mối quan hệ “tam nông” theo một trật tự rất rõ: nông dân là trung tâm, chủ thể; nông nghiệp là động lực phát triển; nông thôn là nền tảng. Từ “trung tâm, động lực, nền tảng” ấy, yêu cầu đặt ra cho giai đoạn mới không chỉ là làm nhiều hơn, mà làm trúng hơn: hướng nguồn lực đến nơi cần nhất, tạo sinh kế thay vì cứu trợ, kích hoạt nội lực thay vì nuôi tâm lý trông chờ. Và cũng từ logic đó, 3 chương trình mục tiêu quốc gia (xây dựng nông thôn mới; giảm nghèo bền vững; phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi) trở thành “mạch chính” của phát triển bao trùm.

image-1_1767328602.webp
Thủ tướng Phạm Minh Chính tham dự và chỉ đạo Hội nghị Tổng kết công tác năm 2025 và Triển khai Nhiệm vụ năm 2026 ngành Nông nghiệp và Môi trường.

Khi những con số tổng kết khép lại một năm, điều còn đọng lại không chỉ là mức tăng trưởng hay tỷ lệ hoàn thành kế hoạch, mà là câu hỏi căn cốt đó là, sự phát triển ấy đã chạm tới đời sống của người dân đến đâu, và liệu nó có đủ sức nâng đỡ xã hội trong chặng đường dài phía trước?

Đối với ngành Nông nghiệp và Môi trường, lĩnh vực gắn trực tiếp với sinh kế của hàng chục triệu người và câu hỏi ấy càng mang ý nghĩa nền tảng. Bởi nông nghiệp không chỉ là một ngành kinh tế, mà là không gian sinh tồn, là trụ đỡ xã hội và là nơi thể hiện rõ nhất triết lý phát triển “không ai bị bỏ lại phía sau”. Trong bức tranh đó, 03 Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2025 chính là trụ cột của phát triển bao trùm, là “xương sống” để hiện thực hóa tư duy phát triển lấy con người làm trung tâm.

Ba chương trình mục tiêu quốc gia, trụ cột của phát triển bao trùm

Theo Báo cáo tổng hợp kết quả triển khai 03 Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2025, tổng nguồn lực huy động cho ba chương trình đạt gần 200 nghìn tỷ đồng, trong đó riêng ngân sách trung ương bố trí hơn 199.900 tỷ đồng, tập trung cho xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Điểm nổi bật của giai đoạn này không chỉ là quy mô nguồn lực, mà là cách thức triển khai đã thay đổi căn bản, từ dàn trải sang tập trung; từ hỗ trợ mang tính hành chính sang đầu tư tạo sinh kế; từ “làm thay” sang “trao quyền”. Ba chương trình không còn vận hành rời rạc, mà từng bước được lồng ghép, bổ trợ lẫn nhau, hướng tới cùng một mục tiêu: phát triển bao trùm, bền vững và công bằng. Chính trong cách tiếp cận đó, những con số khô khan trở thành chỉ dấu của một chuyển động xã hội sâu rộng.

Một trong những chuyển biến căn bản nhất của giai đoạn 2021-2025 là sự thay đổi cách tiếp cận trong công tác giảm nghèo. Nếu trước đây, giảm nghèo chủ yếu được nhìn qua lăng kính thu nhập, thì nay được tiếp cận theo hướng đa chiều, phản ánh đầy đủ hơn các khía cạnh của chất lượng sống: việc làm, giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, tiếp cận thông tin và khả năng tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội.

Theo Báo cáo kết quả thực hiện 03 Chương trình mục tiêu quốc gia, đến hết năm 2024, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều trên cả nước còn 1,93%, giảm mạnh so với mức 5,2% đầu kỳ, bình quân giảm khoảng 1,03%/năm, đạt và vượt mục tiêu Quốc hội giao. Riêng tại các huyện nghèo, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 44,97% xuống còn 24,86%, bình quân giảm 6,7%/năm; trong khi tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số giảm từ 25,91% xuống còn 12,55%, bình quân giảm 4,45%/năm, mức giảm cao hơn mặt bằng chung cả nước.

Những con số này cho thấy, tác động thực chất của các chính sách giảm nghèo khi được thiết kế đúng đối tượng và triển khai đồng bộ. Tuy nhiên, báo cáo cũng chỉ rõ: nghèo đói hiện nay không còn phân bố dàn trải mà tập trung ở những vùng “lõi nghèo”, nơi điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, hạ tầng thiếu đồng bộ, khả năng tiếp cận dịch vụ còn hạn chế và nguy cơ tái nghèo luôn hiện hữu.

Chính vì vậy, giai đoạn 2021-2025 đánh dấu sự chuyển dịch căn bản trong tư duy: từ hỗ trợ mang tính cứu trợ sang trao cơ hội phát triển, từ “cho không” sang “đầu tư sinh kế”. Thay vì chỉ hỗ trợ bằng tiền hoặc hiện vật, các chính sách tập trung vào nâng cao năng lực tự chủ của người dân thông qua sản xuất, đào tạo nghề, kết nối thị trường và tạo việc làm bền vững.

Cụ thể, trong giai đoạn này đã triển khai 6.174 dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, thu hút 99.594 hộ tham gia; tổ chức 1.940 lớp tập huấn, đào tạo cho 58.243 lượt người, góp phần nâng cao năng lực sản xuất, quản lý và tiếp cận thị trường. Đồng thời, chương trình đã hỗ trợ hơn 4,6 triệu lượt lao động thuộc hộ nghèo, cận nghèo, mới thoát nghèo; kết nối việc làm cho 975.000 lao động, tạo việc làm mới cho trên 700.000 lao động.

Song song với đó, các chính sách an sinh được triển khai đồng bộ: hơn 300.000 căn nhà cho hộ nghèo, cận nghèo được xây dựng, sửa chữa; hàng triệu lượt người được hỗ trợ tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục, nước sạch và vệ sinh môi trường. Riêng năm 2025, cả nước có 19 xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn và 03 huyện nghèo chính thức thoát nghèo. Những kết quả này cho thấy giảm nghèo không còn là giải pháp tình thế, mà đang trở thành một quá trình phát triển có chiều sâu, gắn với nâng cao năng lực con người và khả năng chống chịu của cộng đồng trước rủi ro kinh tế - xã hội và biến đổi khí hậu.

Tuy nhiên, các báo cáo cũng thẳng thắn chỉ ra những thách thức còn tồn tại, tỷ lệ hộ nghèo tại một số vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn ở mức cao; nguy cơ tái nghèo còn lớn; chất lượng giảm nghèo chưa đồng đều giữa các địa phương. Điều này đòi hỏi giai đoạn 2026-2030 phải tiếp tục đổi mới cách tiếp cận, tăng cường lồng ghép chính sách, nâng cao hiệu quả đầu tư và đặt trọng tâm vào phát triển sinh kế bền vững.

Phát biểu tại hội nghị Tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026 của ngành Nông nghiệp và Môi trường, trong phát biểu chỉ đạo của mình, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh: “Giảm nghèo phải đi đôi với phát triển bền vững; phải tạo sinh kế, tạo việc làm, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân; không để ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển”. Tinh thần đó cũng chính là trục xuyên suốt của giai đoạn tiếp theo, giảm nghèo không chỉ là mục tiêu xã hội, mà là nền tảng của ổn định và phát triển quốc gia, là điều kiện để nông thôn mới thực sự trở thành không gian sống đáng tin cậy, đáng gắn bó và có khả năng tự phát triển trong dài hạn.

z7384221838187_e48f1436530e337a43cba6fe6c426745-144146_812-144906_1767328636.webp
Các đại biểu tham dự Hội nghị Tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026 của ngành Nông nghiệp và Môi trường ngày 31/12/2025

Từ nông thôn mới đến con người trung tâm, nền tảng của phát triển bền vững

Nếu giai đoạn đầu của Chương trình xây dựng nông thôn mới đặt trọng tâm vào “đạt chuẩn”, thì đến giai đoạn 2021-2025, trọng tâm đã chuyển dịch rõ rệt sang nâng cao chất lượng sống và phát triển bền vững. Đây không còn là câu chuyện của hạ tầng đơn thuần, mà là quá trình kiến tạo không gian sống toàn diện, nơi người dân có điều kiện sinh kế ổn định, môi trường an toàn, dịch vụ thiết yếu thuận tiện và cơ hội phát triển lâu dài.

Theo Báo cáo kết quả thực hiện 03 Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2025, đến hết năm 2025, cả nước có 6.084/7.669 xã đạt chuẩn nông thôn mới, tương đương gần 80% tổng số xã; trong đó 2.567 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, 743 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu. Ở cấp huyện (cũ), có 329 đơn vị hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, nhiều địa phương tiếp tục chuyển sang giai đoạn nâng cao và kiểu mẫu.

Những con số này không chỉ phản ánh mức độ hoàn thành về mặt tiêu chí, mà cho thấy sự thay đổi về chất của nông thôn Việt Nam. Hệ thống giao thông, thủy lợi, điện, nước sinh hoạt được đầu tư đồng bộ; không gian sống ngày càng xanh - sạch - đẹp; dịch vụ y tế, giáo dục và văn hóa tiếp cận thuận lợi hơn; đời sống tinh thần của người dân từng bước được nâng cao. Nông thôn không còn là “vùng trũng” phát triển mà đang dần trở thành không gian kinh tế - xã hội năng động, hấp dẫn và đáng sống.

Sự chuyển dịch ấy gắn chặt với một thay đổi căn bản về tư duy phát triển, lấy con người làm trung tâm. Đây là tư tưởng xuyên suốt được Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh tại Hội nghị Tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026 của ngành Nông nghiệp và Môi trường ngày 31/12/2025. Theo Thủ tướng Phạm Minh Chính, phát triển nông nghiệp trong giai đoạn mới phải theo hướng hiện đại, sinh thái, ứng dụng mạnh mẽ khoa học - công nghệ và chuyển đổi số; nông thôn phải hiện đại; nông dân phải văn minh, có tri thức, kỹ năng và thu nhập ổn định. Phát triển không chỉ để tăng trưởng kinh tế, mà để nâng cao chất lượng sống của người dân, bảo đảm công bằng xã hội và không để ai bị bỏ lại phía sau.

Tinh thần ấy được cụ thể hóa trong cách triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia. Không dừng lại ở đầu tư hạ tầng, chính sách tập trung mạnh vào phát triển con người thông qua đào tạo nghề, nâng cao kỹ năng, hỗ trợ sinh kế bền vững, chăm lo y tế, giáo dục, nhà ở và nước sạch. Giảm nghèo vì thế không chỉ là giảm tỷ lệ thống kê, mà là mở rộng khả năng tiếp cận cơ hội cho từng hộ gia đình, từng cộng đồng.

Thực tiễn cho thấy, khi con người được đặt ở vị trí trung tâm, các chương trình phát triển mới thực sự bền vững. Nhiều địa phương đã chuyển từ tư duy “đạt chuẩn” sang “giữ chuẩn và nâng chất”, từ làm theo phong trào sang phát triển dài hạn, từ hỗ trợ ngắn hạn sang tạo nền tảng sinh kế ổn định. Đây chính là cơ sở để nông thôn không chỉ phát triển hôm nay mà còn đủ sức thích ứng trước những biến động trong tương lai.

Từ nông thôn mới đến quốc gia phát triển là một hành trình dài, đòi hỏi sự kiên định về mục tiêu và nhất quán trong hành động. Trong hành trình đó, con người không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách, mà là chủ thể kiến tạo sự phát triển. Khi người dân được trao cơ hội, được tin tưởng và được đồng hành, nông thôn sẽ không chỉ “đổi mới”, mà sẽ thực sự “đổi đời”, trở thành nền tảng vững chắc cho một Việt Nam phát triển bền vững và bao trùm.

cong-nghiep-hoa-nong-nghiep_1767328770.webp
Nghị quyết số 46/NQ-CP: Đẩy mạnh công nghiệp hóa nông nghiệp, khuyến khích phát triển nông nghiệp xanh 

Tầm nhìn 2026-2035: “xanh hóa” để bền vững, “số hóa” để bứt phá, “bao trùm” để không ai bị bỏ lại phía sau

Bước sang giai đoạn mới, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 257/2025/QH15, định hướng triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2035. Trọng tâm là tích hợp, tránh chồng chéo, tập trung nguồn lực và nâng cao hiệu quả đầu tư. Mục tiêu xuyên suốt là xây dựng một nền nông nghiệp xanh, hiện đại; một nông thôn đáng sống; và một xã hội phát triển bao trùm, nơi không ai bị bỏ lại phía sau.

Theo tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Phạm Minh Chính tại cuộc họp Tổng kết ngành Nông nghiệp và Môi trường thì, phát triển phải đi đôi với kỷ cương, hiệu quả và bền vững; phải chuyển từ “làm nhiều” sang “làm đúng, làm trúng và làm đến nơi đến chốn”; từ hỗ trợ sang tạo động lực phát triển lâu dài. Theo đó, bước sang giai đoạn 2026-2035, câu chuyện của nông nghiệp và môi trường không còn dừng ở việc “hoàn thành chỉ tiêu”, mà là kiến tạo một mô hình phát triển mới cho nông thôn Việt Nam: hiện đại hơn, an toàn hơn trước rủi ro khí hậu, và đáng sống hơn cho mỗi gia đình. Trong bức tranh đó, ba chương trình mục tiêu quốc gia không chỉ là “gói chính sách”, mà là một hệ thống can thiệp tổng lực, liên thông, từ hạ tầng đến sinh kế, từ dịch vụ thiết yếu đến năng lực con người, từ quản trị hành chính đến quản trị bằng dữ liệu.

Theo Báo cáo Kết quả triển khai thực hiện 03 chương trình mục tiêu quốc gia (xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi) giai đoạn 2021-2025; triển khai Nghị quyết số 257/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035 thì xanh hóa là mạch nền của thập kỷ tới, bởi mọi bài toán phát triển nông thôn đều đang chịu “điều kiện ràng buộc” của môi trường và khí hậu. Tầm nhìn mới hướng tới xây dựng nông thôn xanh, sạch, đẹp, an toàn, gắn với thích ứng biến đổi khí hậu, phát triển xanh và kinh tế tuần hoàn. Ở đó, hạ tầng không chỉ là đường, điện, trường, trạm theo nghĩa truyền thống, mà là hạ tầng chống chịu, thủy lợi thông minh, không gian cư trú an toàn hơn trước sạt lở, lũ quét, cảnh báo rủi ro đến từng thôn bản; môi trường nông thôn được quản lý như một “tài sản công” để bảo vệ sức khỏe cộng đồng và chất lượng sống lâu dài. Định hướng “xây dựng nông thôn mới hiện đại, toàn diện và bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu; phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng,… đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển xanh, tuần hoàn” đã được ngành xác lập như trục xuyên suốt cho giai đoạn mới.

Theo báo cáo Tổng kết thực hiện Kế hoạch phát triển ngành Nông nghiệp và Môi trường năm 2025 và triển khai kế hoạch năm 2026 thì số hóa là “đòn bẩy” để thoát khỏi giới hạn của phương thức quản lý cũ và tạo ra năng suất mới cho nông thôn. Khi dữ liệu trở thành nền tảng điều hành, nông thôn mới sẽ không chỉ đo bằng số km đường bê tông hay số nhà văn hóa, mà đo bằng khả năng tiếp cận dịch vụ thiết yếu thuận lợi hơn, minh bạch hơn, và rẻ hơn cho người dân. tầm nhìn giai đoạn 2026-2035 đặt trọng tâm thúc đẩy kinh tế nông thôn theo hướng ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo; qua đó nâng thu nhập, chất lượng sống và khả năng tiếp cận dịch vụ thiết yếu của người dân nông thôn, từng bước tiệm cận mức sống đô thị.
Đây cũng là lý do trong triển khai chương trình giai đoạn tới, bộ tiêu chí nông thôn mới không còn “một khuôn cho mọi nơi”, báo cáo nêu rõ yêu cầu rà soát và ban hành danh sách xã theo nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3 để áp dụng bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới, đồng thời thí điểm xây dựng xã nông thôn mới hiện đại giai đoạn 2026-2030 với quy định khung và tiêu chí cụ thể theo từng nhóm xã. Cách làm này giúp chuyển đổi số đi vào đúng “mạch” từng vùng: đồng bằng, ven đô, miền núi, biên giới, nơi điều kiện hạ tầng, dân cư, sinh kế khác nhau rất xa.

Cũng theo báo cáo Kết quả triển khai thực hiện 03 chương trình mục tiêu quốc gia nhưng dù xanh hay số, điểm tựa cuối cùng vẫn là bao trùm, phát triển lấy con người làm trung tâm. Giai đoạn 2026-2035 đòi hỏi giảm nghèo không chỉ bằng hỗ trợ ngắn hạn, mà bằng năng lực “tự đứng vững”: việc làm, y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, thông tin và môi trường sống. Định hướng đã nêu rõ yêu cầu bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo đa chiều và bao trùm; hạn chế tái nghèo, hỗ trợ hộ nghèo/cận nghèo vượt chuẩn thu nhập và tiếp cận đầy đủ dịch vụ xã hội.

Tại báo cáo Tổng kết thực hiện Kế hoạch phát triển ngành Nông nghiệp và Môi trường năm 2025, giai đoạn 2020 - 2025 và triển khai kế hoạch năm 2026 có một nội dung đáng chú ý, kế hoạch năm 2026 cũng đặt ra chỉ dấu ngay từ “năm đầu giai đoạn”, phấn đấu tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới theo bộ tiêu chí giai đoạn 2026-2030 tối thiểu đạt 15%, đồng thời duy trì giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều bình quân từ 1 đến 1,5%/năm. Điều này cho thấy thông điệp rất rõ: tăng tốc, nhưng không được “tăng tốc một mình”; tăng trưởng phải đi cùng thu hẹp khoảng cách và mở rộng cơ hội.

Để tầm nhìn ấy không dừng trên giấy, báo cáo cũng nhấn mạnh cơ chế triển khai theo hướng phân cấp gắn trách nhiệm và giám sát xã hội. Theo đó, hằng năm, UBND tỉnh/thành phố phải báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp tại kỳ họp cuối năm và báo cáo Chính phủ về kết quả thực hiện; địa phương chủ động bố trí ngân sách để chuẩn bị đầu tư các dự án xây dựng cơ bản trong khuôn khổ chương trình.

Còn tại Báo cáo Kết quả triển khai thực hiện 03 chương trình mục tiêu quốc gia (xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi) giai đoạn 2021-2025; triển khai Nghị quyết số 257/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035 đã chỉ rõ: song song, Ủy ban Trung ương mặt trận Tổ quốc Việt Nam được đề nghị tham gia hướng dẫn, phối hợp triển khai và thực hiện giám sát, phản biện xã hội trong quá trình thực hiện chương trình. Đây là điểm rất quan trọng của giai đoạn 2026-2035: chương trình không chỉ “có vốn”, mà phải “có kỷ luật thực thi”; không chỉ “có chỉ tiêu”, mà phải “có đo lường và trách nhiệm giải trình”, để từng công trình, từng mô hình sinh kế, từng dịch vụ thiết yếu thực sự chạm đến người dân.

Nhìn tổng thể, tầm nhìn 2026-2035 vì thế không phải là một khẩu hiệu ghép ba từ “xanh, số, bao trùm”, mà là một cấu trúc phát triển mới: Xanh để tăng sức chống chịu và bền vững dài hạn; Số để nâng hiệu quả quản trị và năng suất kinh tế nông thôn; Bao trùm để mọi thành quả phát triển trở thành cơ hội thật sự của từng người dân, từng vùng khó khăn.

Từ nông thôn mới đến quốc gia phát triển là một hành trình dài, đòi hỏi tầm nhìn, bản lĩnh và sự đồng thuận xã hội. Trong hành trình ấy, nông nghiệp không chỉ là trụ đỡ của nền kinh tế, mà còn là không gian hun đúc bản sắc, nuôi dưỡng con người và kiến tạo tương lai.

Như thông điệp xuyên suốt được khẳng định tại Hội nghị Tổng kết thực hiện Kế hoạch phát triển ngành Nông nghiệp và Môi trường năm 2025, giai đoạn 2020 - 2025 và triển khai kế hoạch năm 2026: một nền nông nghiệp hiện đại không chỉ nuôi sống đất nước, mà còn nuôi dưỡng khát vọng phát triển bền vững của dân tộc.

Minh - Linh - Hưng