Lâm nghiệp Việt Nam trước sứ mệnh mới

Lâm nghiệp Việt Nam trước sứ mệnh mới

Thứ hai, 7/9/2026, 07:29 (GMT+7)
logo Cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 (Net Zero 2050) đang mở ra cơ hội tái định vị vai trò của lâm nghiệp trong chiến lược phát triển quốc gia. Từ một ngành chủ yếu bảo vệ tài nguyên và cung cấp nguyên liệu, lâm nghiệp đang trở thành động lực của tăng trưởng xanh thông qua phát triển kinh tế carbon, dịch vụ hệ sinh thái và kinh tế sinh học. Điều này, đòi hỏi ngành lâm nghiệp phải đổi mới mô hình phát triển theo hướng hiện đại, dựa trên khoa học, công nghệ và quản trị tiên tiến.
lam-nghiep_1788491701.jpg
Ảnh minh họa

Định vị lại vai trò của lâm nghiệp trong kỷ nguyên tăng trưởng xanh

Bước vào giai đoạn phát triển mới của đất nước, lâm nghiệp Việt Nam đang đứng trước một yêu cầu mang tính chiến lược: Không chỉ tiếp tục hoàn thành sứ mệnh bảo vệ tài nguyên rừng mà còn phải trở thành một ngành kinh tế hiện đại, tạo giá trị gia tăng cao và đóng góp trực tiếp vào mục tiêu phát triển bền vững. Đây là sự chuyển dịch quan trọng trong tư duy phát triển, phù hợp với xu thế toàn cầu về kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và kinh tế carbon.

Thực tiễn cho thấy, sau gần bốn thập kỷ đổi mới, ngành lâm nghiệp đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Theo Quyết định số 1106/QĐ-BNNMT ngày 31/3/2026 của Bộ NN&MT [1] công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2025, diện tích rừng của cả nước đạt 14.917.553 ha, tỷ lệ che phủ rừng ở mức 42,03%. Những kết quả này phản ánh nỗ lực bền bỉ của Việt Nam trong bảo vệ và phát triển rừng, từng bước khôi phục các hệ sinh thái tự nhiên, nâng cao chất lượng môi trường và tạo nền tảng cho phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững. Song song với nhiệm vụ bảo vệ tài nguyên, lâm nghiệp cũng trở thành một trong những ngành hàng xuất khẩu quan trọng của nền kinh tế. Giá trị xuất khẩu gỗ và lâm sản năm 2025 đạt trên 17 tỷ USD, đưa Việt Nam trở thành quốc gia đứng đầu Đông Nam Á và thuộc nhóm dẫn đầu thế giới về xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ. Thành tựu này không chỉ khẳng định năng lực sản xuất, chế biến của ngành mà còn cho thấy khả năng hội nhập ngày càng sâu rộng vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Tuy nhiên, những kết quả đạt được cũng đặt ra yêu cầu phải thay đổi mô hình phát triển. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng phức tạp, các tiêu chuẩn xanh trên thị trường quốc tế liên tục được nâng cao và yêu cầu giảm phát thải trở thành điều kiện bắt buộc đối với nhiều ngành sản xuất, mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ và xuất khẩu sản phẩm sơ chế đang dần bộc lộ những hạn chế.

Hiện nay, lâm nghiệp Việt Nam đang chuyển từ mô hình sản xuất truyền thống sang nền kinh tế lâm nghiệp dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp nền tảng và kinh tế carbon. Đây không chỉ là sự thay đổi về phương thức sản xuất mà còn là sự thay đổi về cách tiếp cận đối với giá trị của rừng. Rừng không còn được nhìn nhận đơn thuần là nguồn cung cấp gỗ mà là hệ sinh thái tạo ra nhiều giá trị kinh tế, môi trường và xã hội cùng lúc. Mô hình này cho thấy, giá trị lớn nhất của rừng không nằm ở khối lượng gỗ khai thác mà nằm ở khả năng hấp thụ và lưu giữ carbon, điều hòa khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ nguồn nước và cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái. Đây chính là nền tảng để hình thành kinh tế carbon - một lĩnh vực đang phát triển nhanh trên phạm vi toàn cầu.

Theo Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, tại Công văn số 1108/2024/LN-KH&HTQT về thông tin tình hình triển khai dịch vụ hấp thụ và lưu trữ carbon rừng, giai đoạn 2021 - 2030, rừng Việt Nam có khả năng giảm phát thải và tăng hấp thụ khoảng 166 triệu tấn CO2 tương đương. Nếu nguồn tài nguyên carbon này được thương mại hóa hiệu quả thông qua thị trường tín chỉ carbon, nguồn thu có thể đạt bình quân khoảng 1.300 tỷ đồng mỗi năm. Đây là dư địa tăng trưởng rất lớn đối với ngành lâm nghiệp trong giai đoạn tới. 

Thực tế cũng đã xuất hiện những kết quả bước đầu đáng khích lệ. Thỏa thuận chi trả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ (ERPA) ký với Ngân hàng Thế giới đã giúp Việt Nam chuyển nhượng thành công 10,3 triệu tấn CO2 và thu về khoảng 51,5 triệu USD [2]. Thành công này cho thấy, tín chỉ carbon rừng không còn là khái niệm lý thuyết mà đã từng bước trở thành nguồn lực kinh tế mới, tạo thêm nguồn tài chính cho công tác bảo vệ và phát triển rừng. 

Bên cạnh thị trường carbon, giá trị của rừng còn được thể hiện thông qua dịch vụ hệ sinh thái. Trên phạm vi toàn cầu, tổng giá trị các khu rừng ước đạt từ 50 đến 150 nghìn tỷ USD [2], trong đó phần lớn giá trị không đến từ khai thác gỗ mà từ chức năng điều hòa khí hậu và cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái. 

Việt Nam đã sớm tiếp cận xu hướng này thông qua chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Chỉ trong giai đoạn 2021 - 2025, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam đã thu được khoảng 18.763 tỷ đồng, tạo nguồn tài chính ổn định cho bảo vệ rừng và giảm áp lực cho ngân sách nhà nước. Có thể thấy, sự thay đổi về nhận thức đối với giá trị của rừng đang mở ra không gian phát triển hoàn toàn mới cho ngành lâm nghiệp. Nếu biết khai thác hiệu quả các giá trị từ dịch vụ hệ sinh thái, tín chỉ carbon và kinh tế sinh học, lâm nghiệp sẽ không chỉ góp phần thực hiện cam kết Net Zero 2050 mà còn trở thành một động lực tăng trưởng xanh của nền kinh tế.

Hoàn thiện thể chế và quản trị hiện đại để biến tiềm năng thành động lực phát triển

Nếu rừng được xem là nguồn vốn tự nhiên đặc biệt của quốc gia thì thể chế chính là yếu tố quyết định khả năng chuyển hóa nguồn vốn đó thành giá trị kinh tế, môi trường và xã hội. Trong bối cảnh Việt Nam đang triển khai lộ trình thực hiện cam kết Net Zero 2050, yêu cầu đặt ra không chỉ là tiếp tục bảo vệ và phát triển rừng mà còn phải xây dựng một hệ thống quản trị hiện đại, minh bạch và đủ năng lực vận hành thị trường carbon cũng như khai thác hiệu quả các giá trị của hệ sinh thái rừng.

Theo ông Bùi Chí Kiên, Vụ Kinh tế ngành, Ban Chính sách, Chiến lược trung ương, đột phá đầu tiên cần tập trung là hoàn thiện thể chế kinh tế carbon và nâng cấp quản trị rừng. Trong đó, việc xác lập khung pháp lý về quyền carbon rừng có ý nghĩa nền tảng, bởi đây sẽ là cơ sở để xác định quyền sở hữu, quyền hưởng lợi cũng như trách nhiệm của các chủ thể tham gia thị trường tín chỉ carbon. Song song với đó, việc ban hành đầy đủ các quy định về đo đạc, báo cáo và thẩm định kết quả giảm phát thải; hoàn thiện cơ chế đầu tư, kinh doanh tín chỉ carbon và xây dựng cơ chế đồng quản trị với sự tham gia của Nhà nước, doanh nghiệp, chủ rừng, cộng đồng và các tổ chức độc lập nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong phân chia lợi ích. Một yêu cầu quan trọng khác là tái cấu trúc chuỗi giá trị lâm nghiệp theo hướng hiện đại. Trong điều kiện cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, lợi thế về lao động giá rẻ không còn là yếu tố quyết định. Giá trị gia tăng của ngành sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào trình độ khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, năng lực quản trị và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn xanh của thị trường quốc tế.

Theo đó, trong thời gian tới, các doanh nghiệp lâm nghiệp cần chuyển đổi từ mô hình sản xuất truyền thống sang mô hình doanh nghiệp nền tảng, ứng dụng công nghệ số trong quản lý vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc, quản lý dữ liệu rừng và kết nối toàn bộ chuỗi giá trị. Đồng thời, phát triển rừng trồng gỗ lớn và mở rộng diện tích rừng có chứng chỉ quản lý rừng bền vững theo các tiêu chuẩn quốc tế như: FSC, PEFC sẽ tạo điều kiện để sản phẩm gỗ Việt Nam tham gia sâu hơn vào các phân khúc giá trị cao trên thị trường thế giới. 

Bên cạnh đó, cộng đồng địa phương tiếp tục được xác định là lực lượng giữ vai trò đặc biệt trong quản lý và bảo vệ rừng. Hiện nay, cả nước có hơn 10.000 cộng đồng đang quản lý gần một triệu héc-ta rừng. Đây là lực lượng gắn bó trực tiếp với tài nguyên rừng và có nhiều kinh nghiệm trong quản lý, sử dụng rừng theo hướng bền vững. Tuy nhiên, những hạn chế về địa vị pháp lý đang làm giảm khả năng tiếp cận các nguồn lực phát triển cũng như cơ hội tham gia thị trường của cộng đồng. Vì vậy, việc hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát huy vai trò của cộng đồng không chỉ góp phần bảo vệ rừng hiệu quả hơn mà còn tạo nền tảng cho phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững từ cơ sở. 

Một hướng đi có nhiều triển vọng là phát triển nông - lâm kết hợp. Cho phép kết hợp giữa cây thân gỗ với sản xuất nông nghiệp, góp phần phục hồi hệ sinh thái, bảo vệ đất và nguồn nước, đồng thời tạo thêm sinh kế cho người dân miền núi. Không chỉ dừng ở sản xuất gỗ, cách làm này còn mở ra không gian phát triển các chuỗi giá trị dưới tán rừng như dược liệu, lâm sản ngoài gỗ, du lịch sinh thái và các sản phẩm sinh học có giá trị cao.

Đối với mục tiêu giảm phát thải, ông Vũ Tấn Phương, Giám đốc Văn phòng Chứng chỉ Quản lý rừng bền vững cho biết, theo kết quả kiểm kê khí nhà kính, lâm nghiệp và sử dụng đất hiện là những lĩnh vực có phát thải âm, tức có khả năng hấp thụ lượng carbon lớn hơn lượng phát thải. Với khoảng 14,8 triệu ha rừng, trong đó khoảng 10,3 triệu ha là rừng tự nhiên, đây là lĩnh vực có tiềm năng rất lớn để đóng góp vào mục tiêu Net Zero của Việt Nam. Theo lộ trình thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), đến năm 2030 lĩnh vực nông, lâm nghiệp dự kiến giảm khoảng 129 triệu tấn CO2 tương đương. Để đạt mục tiêu này, các giải pháp được triển khai theo hai hướng đồng thời: Giảm phát thải từ chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, suy thoái rừng và cháy rừng; đồng thời gia tăng khả năng hấp thụ carbon thông qua trồng rừng, phục hồi rừng và nâng cao chất lượng rừng. 

Do đó, quản lý rừng bền vững cần bảo đảm đồng thời ba trụ cột là kinh tế, môi trường và xã hội. Điều đó, đồng nghĩa với việc các hoạt động sản xuất lâm nghiệp phải hướng tới giảm phát thải carbon ngay trong toàn bộ chu trình sản xuất, từ giảm sử dụng phân bón hóa học, hạn chế đốt sinh khối sau khai thác đến tối ưu hóa vận chuyển và sử dụng nhiên liệu hóa thạch. Đồng thời, việc bảo đảm quyền lợi của cộng đồng địa phương, tạo điều kiện để người dân tham gia quản lý và hưởng lợi từ rừng cũng là điều kiện quan trọng để duy trì tính bền vững của hệ sinh thái rừng. 

Bên cạnh đó, để biến tiềm năng thành động lực tăng trưởng thực sự, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát triển thị trường carbon, đổi mới mô hình quản trị, thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và phát huy vai trò của cộng đồng trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

Khi những trụ cột này được triển khai đồng bộ, lâm nghiệp Việt Nam sẽ không chỉ đóng góp tích cực vào việc hiện thực hóa mục tiêu Net Zero 2050 mà còn khẳng định vị thế là một trong những ngành kinh tế xanh quan trọng, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới.

Tài liệu tham khảo

1. Quyết định 1106/QĐ-BNNMT năm 2026 công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2025, ngày 31/3/2026 của Bộ NN&MT.
2. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. (2024). Báo cáo Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) cập nhật năm 2022 của Việt Nam gửi Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC).
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. (2023). Thỏa thuận chi trả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ (ERPA) ký kết giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam và Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế (IBRD) thuộc Ngân hàng Thế giới (WB).
4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. (2025). Báo cáo tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026 ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn.

 

Nông Thị Nhung - Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương