Mở khóa thị trường các-bon Việt Nam

Mở khóa thị trường các-bon Việt Nam

Thứ sáu, 18/9/2026, 07:42 (GMT+7)
logo Nghị định số 112/2026/NĐ-CP đã tạo hành lang pháp lý cho việc trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon. Nhưng để biến tiềm năng giảm phát thải thành nguồn tài chính cho chuyển đổi xanh, Việt Nam còn phải giải một bài toán khó hơn: Hình thành đủ nguồn tín chỉ có chất lượng, bảo đảm tính toàn vẹn môi trường và kết nối đồng bộ chính sách các-bon với pháp luật chuyên ngành.

Thị trường các-bon thường được nhìn qua lăng kính mua - bán tín chỉ. Cách nhìn đó đúng nhưng chưa đủ. Đằng sau một tín chỉ có thể giao dịch là cả chuỗi công việc kéo dài: lựa chọn công nghệ và phương pháp luận; xác lập đường cơ sở; chứng minh tính bổ sung; đo đạc, báo cáo và thẩm tra (MRV); đăng ký chương trình, phát hành tín chỉ; xin chấp thuận chuyển giao; thực hiện điều chỉnh tương ứng để tránh tính trùng kết quả giảm phát thải. Chỉ một mắt xích không đáp ứng yêu cầu, kết quả giảm phát thải có thể không trở thành “hàng hóa” được thị trường chấp nhận.

Vì thế, ý nghĩa lớn của Nghị định số 112/2026/NĐ-CP không chỉ nằm ở việc mở một kênh giao dịch mới. Văn bản này, được Chính phủ ban hành ngày 1/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 19/5/2026, đặt nền móng cho Việt Nam tham gia sâu hơn vào các cơ chế hợp tác theo Điều 6 Thỏa thuận Paris, đồng thời định hình nguyên tắc quản lý đối với việc đưa kết quả giảm nhẹ phát thải và tín chỉ các-bon của Việt Nam ra thị trường quốc tế.

Khung pháp lý đã mở. Tuy nhiên, cánh cửa thị trường chỉ thực sự vận hành khi Việt Nam đồng thời nâng năng lực của doanh nghiệp, hoàn thiện hệ thống phương pháp luận, bảo đảm nguồn cung cho thị trường trong nước và xử lý những xung đột giữa yêu cầu quốc tế với điều kiện pháp lý, sản xuất ở từng ngành.

bcd3179a64e641a8a6054fc8a53c2f4c-74073_1789458885.png
Ông Nguyễn Tuấn Quang, Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu (Bộ NN&MT) cho biết: Đến nay, Việt Nam đã hình thành hành lang pháp lý để chuẩn bị vận hành thị trường các-bon tại Việt Nam.

Không phải mọi kết quả giảm phát thải đều trở thành tín chỉ

Một dự án tạo tín chỉ các-bon khác căn bản với một hoạt động đầu tư môi trường thông thường. Dự án không chỉ phải giảm được phát thải trên thực tế mà còn phải chứng minh lượng giảm phát thải đó là có thật, có thể đo đếm, được thẩm tra độc lập và không bị tính trùng. Với các giao dịch quốc tế theo Điều 6 Thỏa thuận Paris, yêu cầu về sự cho phép của quốc gia, điều chỉnh tương ứng và trách nhiệm báo cáo càng trở nên chặt chẽ.

Trong chuỗi yêu cầu này, phương pháp luận, MRV và tính bổ sung là ba trụ cột có quan hệ hữu cơ. Phương pháp luận quy định dự án phải tính toán đường cơ sở và lượng giảm phát thải như thế nào. MRV cung cấp bằng chứng dữ liệu để chứng minh kết quả. Tính bổ sung trả lời câu hỏi có tính quyết định: nếu không có nguồn thu hoặc động lực từ tín chỉ các-bon, hoạt động giảm phát thải đó có vẫn diễn ra hay không?

Đây là điểm doanh nghiệp cần đặc biệt thận trọng. Một công nghệ có thể còn mới đối với nhiều doanh nghiệp Việt Nam, nhưng “mới” không đồng nghĩa với “bổ sung” theo tiêu chuẩn thị trường. Nếu công nghệ đã phổ biến, đã có hiệu quả thương mại rõ ràng, đã được pháp luật bắt buộc hoặc dự án đã được quyết định đầu tư mà không phụ thuộc vào nguồn thu tín chỉ, việc chứng minh tính bổ sung sẽ khó khăn hơn. Doanh nghiệp triển khai công nghệ trước, nhiều năm sau mới tính đến đăng ký tín chỉ, có thể bỏ lỡ thời điểm chứng minh ý định các-bon và không đáp ứng quy trình của chương trình tín chỉ.

Khoảng cách năng lực giữa các chủ thể cũng là vấn đề đáng lưu ý. Phần lớn doanh nghiệp trong nước hiểu địa bàn, thể chế, tập quán sản xuất và có khả năng tổ chức lực lượng tại chỗ, nhưng còn thiếu kinh nghiệm về phương pháp luận quốc tế, tài chính các-bon, hồ sơ dự án, thẩm định và mạng lưới người mua. Ngược lại, nhà đầu tư hoặc đơn vị phát triển dự án nước ngoài thường nắm vững tiêu chuẩn quốc tế, song không dễ thích nghi ngay với đặc điểm đất đai, thủy lợi, quyền lợi cộng đồng và cơ chế phối hợp giữa các cấp tại Việt Nam.

Bởi vậy, mô hình hợp tác hiệu quả không thể là nhập khẩu nguyên trạng một dự án “đóng gói sẵn”, cũng không thể chỉ dựa vào nguồn lực trong nước. Cần kết hợp công nghệ, vốn, kinh nghiệm tiêu chuẩn và mạng lưới thị trường quốc tế với hiểu biết thể chế, năng lực tổ chức sản xuất và trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của người dân tại Việt Nam. Trong mọi trường hợp, hợp đồng phải làm rõ quyền sở hữu kết quả giảm phát thải, tỷ lệ chia sẻ lợi ích, chi phí phát triển dự án, rủi ro không được phát hành tín chỉ và trách nhiệm khi giao dịch không được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận.

Bài toán tài chính cũng không đơn giản. Dự án phải bỏ vốn cho công nghệ, xây dựng hồ sơ, thu thập dữ liệu, thẩm định và thẩm tra trước khi có doanh thu từ tín chỉ. Chu kỳ chuẩn bị và phát hành có thể kéo dài nhiều năm. Nếu toàn bộ vốn được vay theo điều kiện tín dụng thông thường, trong khi dòng tiền các-bon đến muộn và chưa chắc chắn, rủi ro tài chính sẽ rất cao. Vì vậy, tín dụng xanh, bảo lãnh rủi ro, tài trợ chuẩn bị dự án và hợp đồng mua trước có điều kiện cần được xem như một phần của hệ sinh thái thị trường, chứ không phải vấn đề bên lề.

dfe7810dd0584841a422a224730aa359-74072_1789459069.jpg
Ngày 6/3/2026, Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội thảo "Tăng cường năng lực sẵn sàng tham gia thị trường carbon tại Việt Nam". Hội thảo trao đổi làm rõ các quy định pháp luật mà doanh nghiệp, tổ chức khi tham gia sàn giao dịch carbon trong nước sẽ phải thực hiện, tuân thủ. Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý, chuyên gia cũng cung cấp thông tin, làm rõ các hàng hóa sẽ vận hành trên sàn như hạn ngạch phát thải khí nhà kính cho các cơ sở, tín chỉ carbon loại nào được giao dịch trên sàn…

Nút thắt nguồn cung của thị trường trong nước

Việt Nam đang phát triển hệ thống trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính theo mô hình thị trường tuân thủ. Hàng hóa của thị trường gồm hạn ngạch phát thải và tín chỉ các-bon đủ điều kiện. Theo quy định hiện hành, cơ sở thuộc diện được phân bổ hạn ngạch có thể sử dụng tín chỉ để bù trừ, nhưng không quá 30% lượng hạn ngạch được phân bổ.

Quy định này tạo độ linh hoạt cần thiết. Khi chi phí tự giảm thêm một tấn phát thải tại cơ sở quá cao, doanh nghiệp có thể mua tín chỉ từ một dự án giảm phát thải có chi phí thấp hơn. Về nguyên lý, cơ chế bù trừ giúp toàn nền kinh tế đạt mục tiêu với chi phí hợp lý hơn, đồng thời đưa dòng vốn đến các lĩnh vực có tiềm năng giảm phát thải như nông nghiệp, lâm nghiệp, chất thải và năng lượng tái tạo.

Nhưng quyền được sử dụng tín chỉ chỉ có ý nghĩa khi thị trường thực sự có tín chỉ đủ điều kiện. Nếu danh mục phương pháp luận còn hẹp, hướng dẫn MRV theo loại hình dự án chưa hoàn chỉnh và quy trình công nhận kéo dài, nguồn cung sẽ khó hình thành ở quy mô cần thiết. Khi nhiều cơ sở cùng thiếu hạn ngạch nhưng không có đủ tín chỉ bù trừ hoặc hạn ngạch dư để mua, giá tuân thủ có thể tăng nhanh. Áp lực đó cuối cùng đi vào chi phí sản xuất và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Do đó, nguồn cung tín chỉ phải được coi là một cấu phần ngay từ khâu thiết kế thị trường. Cơ quan quản lý cần theo dõi đồng thời lượng hạn ngạch được phân bổ, dự báo nhu cầu bù trừ, số dự án đang trong chu trình đăng ký, thời gian dự kiến phát hành và chất lượng tín chỉ. Việc cho phép bù trừ ở tỷ lệ nhất định không đồng nghĩa doanh nghiệp đương nhiên phải sử dụng hết tỷ lệ đó; càng không thể thay thế yêu cầu tự giảm phát thải tại cơ sở. Nhưng nếu chính sách đã thiết kế một van linh hoạt, van đó phải có khả năng hoạt động trong thực tế.

Một hướng xử lý có thể xem xét là xây dựng danh mục có điều kiện các phương pháp luận quốc tế uy tín được phép tham chiếu trong giai đoạn chuyển tiếp. Cách tiếp cận này không có nghĩa chấp nhận tự động mọi phương pháp của Verra/VCS, Gold Standard hoặc chương trình khác. Nhà nước có thể sàng lọc theo tiêu chí toàn vẹn môi trường, lĩnh vực ưu tiên, khả năng áp dụng tại Việt Nam, rủi ro đảo nghịch, nguy cơ dịch chuyển phát thải, tác động xã hội và yêu cầu dữ liệu; đồng thời đặt thêm điều kiện quốc gia hoặc loại trừ các nhóm dự án không phù hợp.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy việc đánh giá theo chương trình và lập danh mục đủ điều kiện có thể rút ngắn thời gian mà vẫn duy trì kiểm soát. Singapore sử dụng khung tiêu chí và danh mục chương trình, phương pháp đủ điều kiện đối với tín chỉ quốc tế được dùng cho mục đích tuân thủ. Cơ chế CORSIA của Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế cũng đánh giá các chương trình tín chỉ dựa trên tiêu chí về đơn vị phát thải đủ điều kiện. Điểm cốt lõi không phải “sao chép tiêu chuẩn nước ngoài”, mà là tận dụng tri thức đã được tích lũy, sau đó đặt dưới cơ chế phê duyệt, giám sát và trách nhiệm giải trình của Việt Nam.

Song song với danh mục chuyển tiếp, các bộ quản lý lĩnh vực vẫn phải phát triển phương pháp luận quốc gia. Hai quá trình không loại trừ nhau. Việc cho phép triển khai có kiểm soát một số phương pháp quốc tế sẽ tạo dự án thực tế để cơ quan quản lý, doanh nghiệp, tổ chức thẩm định và đơn vị tư vấn cùng học hỏi. Năng lực thị trường không thể chỉ hình thành qua hội thảo; nó được tạo ra khi các chủ thể phải xử lý dữ liệu thiếu, xác định đường cơ sở, giải quyết quyền lợi của người tham gia và chịu trách nhiệm về một kết quả đã được thẩm tra.

Cùng với nguồn tín chỉ, cơ chế đấu giá hạn ngạch và sử dụng nguồn thu cũng cần được chuẩn bị sớm. Khi đấu giá được triển khai, tính minh bạch trong xác định khối lượng, lịch đấu giá, điều kiện tham gia và giám sát hành vi thị trường sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin. Nguồn thu, nếu được hình thành, nên có cơ chế quản lý rõ ràng và ưu tiên quay trở lại hỗ trợ đổi mới công nghệ, giảm phát thải, đào tạo nhân lực và thích ứng với biến đổi khí hậu. Như vậy, thị trường không chỉ đặt giá cho phát thải mà còn tạo vòng tuần hoàn tài chính cho chuyển đổi xanh.

cac_dai_bieu_tham_quan_thuc_te_mo_hinh_lua_giam_phat_thai_tai_xa_nam_ba_don_20260421111000_1789459300.webp
 Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Bắc Trung bộ phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường tổ chức tham quan, đánh giá mô hình lúa giảm phát thải thông qua kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ, hướng tới tạo tín chỉ các-bon tại tại xã Nam Ba Đồn - Quảng Trị

Bài kiểm tra từ cánh đồng lúa

Nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa, cho thấy rõ nhất vì sao chính sách các-bon không thể đứng một mình. Việt Nam có tiềm năng đáng kể trong giảm phát thải methane nhờ quản lý nước, rơm rạ, phân bón và thay đổi quy trình canh tác. Song tiềm năng kỹ thuật chỉ là điểm xuất phát.

Một dự án lúa phải tổ chức được số lượng lớn hộ nông dân, xác định ranh giới dự án, quản lý lịch tưới - tiêu, theo dõi thực hành canh tác và duy trì dữ liệu qua nhiều vụ. Phương pháp luận quốc tế được thiết kế để áp dụng ở nhiều quốc gia, trong khi điều kiện Việt Nam có đặc thù về hệ thống thủy lợi liên vùng, quy mô ruộng nhỏ, quyền sử dụng đất, vai trò hợp tác xã và trách nhiệm vận hành công trình nước. Có yêu cầu kỹ thuật hoàn toàn khả thi nhưng khó thực hiện đồng bộ nếu lịch cấp nước, quyền quyết định ở từng khâu hoặc cơ chế chia sẻ dữ liệu chưa rõ.

Đây là lý do rà soát pháp luật phải được thực hiện theo chuỗi. Quy định về thị trường các-bon cần đi cùng quy định về nông nghiệp, thủy lợi, đất đai, hợp tác xã, dữ liệu và phân phối lợi ích. Nếu người phát triển dự án không có quyền yêu cầu thực hiện chế độ nước; nếu nông dân không biết mình được hưởng bao nhiêu từ tín chỉ; nếu dữ liệu không đủ độ tin cậy hoặc không xác định được trách nhiệm khi thực hành bị gián đoạn, dự án khó duy trì tính toàn vẹn trong suốt kỳ tín chỉ.

Thay vì mở rộng ngay trên diện rộng, Việt Nam có thể lựa chọn một số vùng có hạ tầng thủy lợi chủ động, tổ chức sản xuất tương đối ổn định, dữ liệu nền tốt và sự tham gia thực chất của hợp tác xã để xây dựng dự án tiên phong. Mục tiêu của thí điểm không chỉ là phát hành được bao nhiêu tín chỉ, mà còn là kiểm chứng chi phí MRV, khả năng duy trì thực hành, tỷ lệ lợi ích đến tay nông dân và những điều khoản pháp lý cần sửa.

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) có thể hữu ích trong trường hợp này. Sandbox không phải là miễn trừ tiêu chuẩn hay hạ thấp yêu cầu môi trường. Đó là không gian pháp lý có giới hạn về thời gian, địa bàn, chủ thể và quy mô để cơ quan quản lý theo dõi sát dự án, nhận diện vướng mắc, xử lý rủi ro và dùng bằng chứng thực tế làm căn cứ hoàn thiện chính sách. Sau thí điểm, mô hình chỉ nên được nhân rộng khi chứng minh được hiệu quả khí hậu, hiệu quả kinh tế và sự công bằng trong chia sẻ lợi ích.

ban-tin-chi-carbon-dau-tien-trong-nganh-san-xuat-lua-viet-nam-17-1725975231630220801100_1789459615.webp
Mô hình này giúp nông dân thay đổi phương pháp canh tác truyền thống, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, cải tạo đất lúa. Qua thử nghiệm, mô hình giúp giảm lượng phát thải được gần 17 tấn khí nhà kính (carbon) góp phần bảo vệ môi trường, lúa sạch hơn, sản xuất an toàn hơn.

Điều 6 phải được nhìn như một công cụ phát triển

Việt Nam hiện chủ yếu có vị thế của một quốc gia cung cấp kết quả giảm nhẹ phát thải cho thị trường quốc tế. Vị thế này mở ra cơ hội thu hút vốn và công nghệ, nhưng cũng đặt ra yêu cầu bảo vệ lợi ích quốc gia. Mỗi kết quả giảm phát thải được cho phép chuyển giao ra nước ngoài đều liên quan đến khả năng thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) của Việt Nam. Vì vậy, quyết định chuyển giao không thể chỉ dựa trên giá tín chỉ tại thời điểm giao dịch.

Cơ quan có thẩm quyền cần cân nhắc chi phí giảm phát thải, nhu cầu giữ lại kết quả cho mục tiêu trong nước, mức độ đóng góp của dự án đối với chuyển giao công nghệ, sinh kế và phát triển bền vững. Nghị định số 112/2026/NĐ-CP đã phân nhóm hoạt động và giới hạn tỷ lệ chuyển giao trong trường hợp có điều chỉnh tương ứng, trong đó có mức tối đa 90% đối với nhóm thuộc Danh mục số 01 và 50% đối với nhóm thuộc Danh mục số 02. Tuy nhiên, tỷ lệ được phép chuyển giao cao hơn không mặc nhiên đồng nghĩa dự án hấp dẫn hơn. Hiệu quả phải được tính trên toàn bộ vòng đời, gồm vốn đầu tư, chi phí giảm phát thải, chi phí MRV, rủi ro phương pháp luận, thời gian phát hành, tỷ lệ được chuyển giao và giá bán dự kiến.

Nhìn rộng hơn, Điều 6 cần được xem như một công cụ huy động nguồn lực cho chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Một dự án tốt không chỉ tạo tín chỉ, mà còn đưa công nghệ sạch vào sản xuất, cải thiện dữ liệu phát thải, nâng năng lực quản trị và tạo lợi ích cho cộng đồng. Nếu chỉ chạy theo khối lượng tín chỉ ngắn hạn, Việt Nam có thể bán sớm những kết quả giảm phát thải chi phí thấp, trong khi phải tự gánh phần giảm phát thải đắt hơn để hoàn thành NDC về sau.

Thị trường vì thế cần một hệ thống quản trị đủ mạnh: Cơ sở dữ liệu và cơ quan đăng ký minh bạch; quy trình cho phép chuyển giao rõ ràng; cơ chế chống tính trùng; tiêu chí phát triển bền vững; giám sát xung đột lợi ích; công khai thông tin phù hợp; đội ngũ thẩm định, thẩm tra có năng lực và chế tài đối với khai báo sai. Niềm tin là tài sản lớn nhất của thị trường các-bon. Một tín chỉ bị nghi ngờ về chất lượng không chỉ làm giảm giá của một dự án mà còn có thể ảnh hưởng đến uy tín của cả hệ thống.

Trên nền tảng đó, Việt Nam cần ưu tiên năm nhóm việc. Thứ nhất, sớm hoàn thiện danh mục phương pháp luận và hướng dẫn MRV theo lĩnh vực, có cơ chế chuyển tiếp để tạo nguồn cung. Thứ hai, rà soát đồng bộ pháp luật chuyên ngành, trước hết tại nông nghiệp, lâm nghiệp, chất thải, năng lượng và công nghiệp. Thứ ba, xây dựng các dự án thí điểm có kiểm soát, công khai kết quả và dùng dữ liệu thực tế để điều chỉnh chính sách. Thứ tư, phát triển các công cụ tài chính chia sẻ rủi ro cho giai đoạn chuẩn bị dự án. Thứ năm, nâng cao năng lực điều phối liên ngành, bởi nhiều vướng mắc đã vượt ra ngoài phạm vi kỹ thuật của riêng cơ quan quản lý biến đổi khí hậu.

Việt Nam có nguồn lực giảm phát thải lớn, nền sản xuất đa dạng và ngày càng được các nhà đầu tư xanh quan tâm. Nhưng tiềm năng không tự động trở thành tín chỉ; tín chỉ cũng không tự động trở thành nguồn vốn phát triển. Khoảng cách giữa ba trạng thái ấy được quyết định bởi chất lượng thể chế, dữ liệu và năng lực thực thi.

Nghị định số 112/2026/NĐ-CP là bước mở quan trọng. Chặng đường tiếp theo đòi hỏi cách làm vừa thận trọng để bảo vệ tính toàn vẹn môi trường và lợi ích quốc gia, vừa đủ linh hoạt để thị trường có thể hình thành. Trong một lĩnh vực mới, điều cần tránh không phải mọi sai số chính sách, mà là chậm nhận diện vấn đề và thiếu cơ chế điều chỉnh dựa trên bằng chứng. Khi thể chế theo kịp thực tiễn, thị trường các-bon mới có thể trở thành đòn bẩy đưa tài chính, công nghệ và hợp tác quốc tế vào quá trình phát triển xanh của Việt Nam.

Bùi Đức Minh - Nghiên cứu sinh tại Đại học Hanyang, Seoul, Hàn Quốc