Sáng ngày 04/6 tại Hà Nội, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm phối hợp với Hội Khoa học Kinh tế nông nghiệp và PTNT tổ chức hội thảo “Nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng, đất lâm nghiệp do UBND xã quản lý”.
Trình bày tại hội thảo, ông Nguyễn Văn Tiến, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế nông nghiệp và PTNT cho biết, theo thống kê, Việt Nam hiện có 14,97 triệu ha rừng, trong đó rừng tự nhiên 10,08 triệu ha, rừng trồng 4,89 triệu ha. Diện tích rừng đã giao, cho thuê cho 7 nhóm chủ rừng gần 11,9 triệu ha; diện tích rừng chưa giao, cho thuê hiện do UBND cấp xã quản lý là 3,07 triệu ha, chiếm 20,51% tổng diện tích rừng của cả nước. Từ khi chúng ta thực hiện chính quyền địa phương hai cấp nhiều chức năng, nhiệm vụ quản lý Nhà nước về đất lâm nghiệp rừng của cấp huyện trước đây được giao cho cấp xã.
Tuy nhiên, hiện nay thông tin, dữ liệu về tổ chức, thực hiện các hoạt động quản lý diện tích rừng xã quản lý chưa rõ ràng. Chưa có điều tra cơ bản và tổng kết thực tiễn về thực trạng, hiệu quả quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp do xã quản lý để hoạch định, hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển bền vững đối với diện tích này.
Theo đó, UBND xã không phải là chủ rừng, mà thực hiện chức năng quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn. Tuy nhiên, đối với diện tích rừng, đất lâm nghiệp Nhà nước chưa giao, chưa cho thuê, pháp luật quy định trách nhiệm của UBND xã phải trực tiếp quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng, đất lâm nghiệp đối với diện tích này. Như vậy, trên thực tế, mặc nhiên UBND xã có thẩm quyền và trách nhiệm tổ chức, thực hiện một số chức năng của chủ rừng, như chống chặt phá rừng, phòng cháy chữa cháy rừng, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng, khai thác rừng, sử dụng đất lâm nghiệp... Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định đầy đủ, thống nhất về địa vị pháp lý của UBND xã đối với quản lý trực tiếp diện tích rừng, đất lâm nghiệp chưa giao, cho thuê, dẫn đến tình trạng UBND xã không có đầy đủ căn cứ pháp luật để quyết định, tổ chức thực hiện các hoạt động bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng, đất lâm nghiệp; thiều cơ chế chính sách đảm bảo tài chính cho công tác quản lý này.
Một trong những khoảng trống lớn nhất trong hệ thống quản trị rừng hiện nay là chưa có cơ chế pháp lý đầy đủ để xác định rõ vai trò, trách nhiệm của UBND xã trong việc tổ chức, thực hiện công tác bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng với tư cách chủ thể trực tiếp quản lý. Được giao quản lý trong tình trạng “quản lý nhưng không có đầy đủ quyền và nguồn lực”, hệ thống pháp luật đất đai và lâm nghiệp hiện nay gần như không có quy định cụ thể nào xác định rõ UBND cấp xã là một chủ thể quản lý rừng theo nghĩa đầy đủ, cũng không quy định rõ quyền, nghĩa vụ và giới hạn trách nhiệm của cấp xã đối với diện tích rừng được tạm giao…
Tại hội thảo, TS. Vũ Mạnh Hùng, Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương cho biết, sau khi triển khai chính quyền hai cấp, một số đơn vị hành chính thay đổi, đặc biệt là các xã mới thành lập có diện tích lớn. Đối với các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc, có xã có diện tích lên đến hàng trăm km2 do vậy công tác quản lý rừng gặp nhiều khó khăn. Theo số liệu khảo sát cho thấy, hiện nay diện tích rừng do xã quản lý chủ yếu là rừng tự nhiên nghèo kiệt hoặc núi đá khó tiếp cận. Đặc biệt, sự thay đổi nhanh về tổ chức, trong giai đoạn chuyển giao, việc sáp nhập các cơ quan chuyên môn như Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường), Chi cục Kiểm lâm, các Ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng… dẫn đến những “khoảng trống” ngắn hạn trong quản lý, kiểm tra, giám sát địa bàn trong quản lý, bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp.
Chia sẻ tại hội thảo, TS. Lã Nguyên Khang, Viện Sinh thái rừng và Môi trường (Trường Đại học Lâm nghiệp) cho biết, hiện nay cả nước có hơn 3 triệu ha rừng và đất lâm nghiệp đang do UBND cấp xã quản lý nhưng thực trạng sử dụng và biến động chưa được đánh giá đầy đủ. Về bản chất, UBND cấp xã chủ yếu đang thực hiện chức năng quản lý hành chính, chưa phải là chủ rừng theo nghĩa đầy đủ về quyền tài sản, đầu tư và hưởng lợi, dẫn đến tình trạng “quản lý hộ” kéo dài, thiếu động lực bảo vệ và phát triển rừng lâu dài.
TS. Khang cho biết, hiện nay công tác quản lý, bảo vệ rừng, đất lâm nghiệp ở địa phương còn nhiều bất cập. Nhiều địa phương có diện tích đất rừng lớn nhưng bản chất quản lý vẫn mang tính “tạm thời”, thiếu chủ rừng thực sự; phần lớn diện tích là rừng nghèo, đất trống, bị lấn chiếm hoặc đã bị sử dụng thực tế bởi người dân; sự sai lệch về dữ liệu, bản đồ và hồ sơ quản lý vẫn phổ biến; UBND cấp xã đang gánh trách nhiệm lớn nhưng thiếu nghiêm trọng nguồn lực; khoảng trống và chồng chéo pháp lý giữa Luật Đất đai và Luật Lâm nghiệp vẫn là nút thắt căn bản…
Là một trong những địa phương có diện tích rừng được ghi nhận là lớn nhất cả nước, ông Nguyễn Quốc Hưng, Chi Cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk cho biết, tổng diện tích đất lâm nghiệp và rừng của UBND cấp xã quản lý hơn 200.000 ha, trong đó rừng tự nhiên 53.063,9 ha; rừng trồng 63.460,2 ha. Thời gian quan, Chi cục đã chủ động tham mưu UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và Môi trường ban hành nhiều văn bản triển khai tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng. Chỉ đạo các Hạt kiểm lâm khu vực và các đơn vị chủ rừng phân công lực lượng trực 24/24 thường xuyên theo dõi thông tin cảnh báo cháy rừng trên hệ thống thông tin cảnh báo cháy sớm của Cục Kiểm lâm để kiểm tra, cảnh báo sớm và xác minh các điểm cháy để kịp thời ngăn chặn, xử lý.
UBND cấp xã đã chủ động ban hành kế hoạch bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị; xây dựng phương án phòng cháy chữa cháy rừng với sự tham gia phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng Dân quân tự vệ, Ban Chỉ huy quân sự xã, Công an xã và Kiểm lâm làm việc tại địa bàn nhằm đảm bảo nhân lực thực hiện phương châm "4 tại chỗ"; phối hợp với các đơn vị có liên quan tăng cường công tác tuần tra bảo vệ rừng và công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật thông qua hệ thống loa truyền thanh xã và các cuộc họp thôn nhằm vận động các hộ gia đình sống gần rừng ký cam kết bảo vệ rừng đặc biệt là trong những thời điểm thời tiết nắng nóng, khô hanh kéo dài.
Tuy nhiên, hiện nay, với chính quyền địa phương 2 cấp, công tác phối hợp triển khai thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng của lực lượng Kiểm lâm với UBND cấp xã chưa được quy định, hướng dẫn cụ thể. Việc triển khai, thực hiện nội dung chỉ đạo của UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và Môi trường tại địa phương vẫn còn nhiều hạn chế, chưa chủ động theo dõi, đôn đốc việc triển khai thực hiện và tham mưu chỉ đạo thực hiện kịp thời các nội dung liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn. Công chức cấp xã tại cơ quan chuyên môn về nông nghiệp và môi trường cấp xã còn thiếu so với chỉ tiêu biên chế, hầu hết các xã không có cán bộ chuyên trách về lĩnh vực lâm nghiệp, các công chức hiện đang kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực khác nhau. Do đó, việc tham mưu UBND, Chủ tịch UBND cấp xã thực hiện công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực lâm nghiệp theo thẩm quyền còn chậm như công tác giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi đất lâm nghiệp bị lấn chiếm trái pháp luật. Ngoài ra, nguồn nhân lực cho công tác quản lý bảo vệ rừng tại địa phương còn thiếu, đặc biệt là nhân lực được đào tạo về nghiệp vụ quản lý bảo vệ rừng. Nguồn kinh phí thực hiện công tác quản lý bảo vệ rừng còn hạn chế, chủ yếu phụ thuộc ngân sách Nhà nước, dịch vụ môi trường rừng…
Dưới góc độ quản lý, ông Nguyễn Hữu Thiện, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm cho biết, hiện cả nước có khoảng hơn 3 triệu ha rừng do UBND cấp xã quản lý, chiếm khoảng 20,5% tổng diện tích rừng toàn quốc. Đây là nguồn tài nguyên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, điều hòa khí hậu và góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở nhiều địa phương. Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển lâm nghiệp bền vững, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và các cơ chế tài chính mới từ thị trường carbon, việc quản lý diện tích rừng này đang đặt ra nhiều yêu cầu mới, đặc biệt là vai trò chính quyền cấp xã. Kết quả tổng hợp báo cáo từ 13 tỉnh cho thấy chất lượng rừng do UBND cấp xã quản lý hiện có sự phân hóa lớn nhưng nhìn chung vẫn ở mức thấp. Rừng nghèo và rừng phục hồi chiếm tỷ trọng chủ yếu, tập trung ở các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, nơi điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn…
Tại hội thảo, nhiều ý kiến từ các chuyên gia, nhà quản lý, đại diện chính quyền một số xã ở Sơn La, Phú Thọ, Lai Châu… cho rằng, hiện nay chúng ta đang bước vào kỷ nguyên mới để đưa đất nước phát triển, trong đó chính quyền hai cấp, đặc biệt là cấp xã có vai trò rất quan trọng. Muốn công tác quản lý, bảo vệ rừng, đất lâm nghiệp hiệu quả chúng ta cần có những yêu cầu, thay đổi, đó là: Hoàn thiện thể chế trong bối cảnh phân quyền mạnh cho cấp xã; cần xây dựng “khung quản trị chuẩn quốc gia”; đổi mới mô hình quản trị theo hướng đồng quản lý và đồng hưởng lợi; tăng đầu tư cho cấp xã như một “tuyến đầu lâm nghiệp”, thiết lập lực lượng lâm nghiệp cấp xã đủ năng lực thực thi, bảo đảm nguồn tài chính ổn định cho tuần tra, bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng, đồng thời hiện đại hóa quản lý, bảo vệ rừng bằng công nghệ số, viễn thám và GIS đồng thời nâng cao năng lực mới cho cán bộ xã từ quản lý hành chính sang quản trị tài nguyên – thị trường; gắn quản lý rừng cấp xã với kinh tế lâm nghiệp; phát triển trồng cây dược liệu dưới tán rừng và lâm sản ngoài gỗ, khai thác giá trị bản địa; phát triển du lịch sinh thái cộng đồng tạo sinh kế bền vững…
Phát biểu kết luận hội thảo, TS. Hà Công Tuấn, Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế nông nghiệp và PTNT đánh giá cao các ý kiến tại hội thảo đã thẳng thắn chỉ ra những “điểm nghẽn” hiện nay trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, đất lâm nghiệp do UBND xã quản lý hiện nay. Ông cho rằng với hơn 3 triệu ha diện tích rừng và đất lâm nghiệp do xã quản lý, tức là diện tích chưa giao chưa cho thuê, chưa có chủ, đây là một nguồn tài nguyên rất lớn của quốc gia nhưng chưa được khai thác hiệu quả. Do đó, chúng ta sớm hoàn thiện các cơ chế, chính sách để khai thác hiệu quả.
Trong bối cảnh thay đổi tổ chức hành chính và các yêu cầu mới như thị trường carbon, EUDR, việc rà soát và đánh giá hiện trạng diện tích này trở nên đặc biệt quan trọng. "Chỉ khi rừng được xác lập chủ thể quản lý ổn định, gắn đầy đủ quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ thì công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng mới có thể thực hiện hiệu quả, ổn định và bền vững", ông Tuấn nhấn mạnh.