Sau khi triển khai mô hình chính quyền 2 cấp và hoàn thiện quy hoạch địa giới hành chính các xã, Nghệ An đang tập trung tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng ứng dụng công nghệ cao. Trọng tâm là phát triển các vùng sản xuất gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm dọc hành lang kinh tế đường Hồ Chí Minh.
Việc định hướng này nhằm nâng cao giá trị gia tăng, khai thác lợi thế vùng và tạo động lực tăng trưởng bền vững cho khu vực miền Tây của tỉnh. Điều này được thể hiện rõ trong Quyết định số: 4260/QĐ-UBND, ngày 25/12/2025 về việc Phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông, lâm sản trọng tâm thuộc hành lang kinh tế đường Hồ Chí Minh, tỉnh Nghệ An đến năm 2030.
Nâng cao giá trị nông sản và hướng tới tính bền vững
Nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp các địa phương trong vùng hành lang kinh tế đường Hồ Chí Minh phát triển nhanh và bền vững, Nghệ An xác định rõ mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng của nông sản. Trọng tâm là phát triển sản xuất, chế biến nông lâm sản hàng hóa quy mô tập trung, ứng dụng công nghệ cao gắn với xây dựng, phát triển nhãn hiệu và thương hiệu nông, lâm sản đặc thù, phát huy lợi thế vùng, qua đó nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế, tạo bước đột phá cho tăng trưởng kinh tế nông nghiệp và cải thiện thu nhập cho người dân.
Theo định hướng đến năm 2030, tỷ trọng giá trị sản xuất triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (NNƯDCNC) của vùng hành lang kinh tế đường Hồ Chí Minh phấn đấu đạt từ 40 – 45% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp của vùng và chiếm khoảng 20 – 25% giá trị sản xuất nông nghiệp toàn tỉnh. Cùng với đó, địa phương cũng tập trung nghiên cứu thành lập Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại xã Nghĩa Thọ. Đồng thời, xây dựng và phát triển từ 3 – 5 doanh nghiệp NNƯDCNC, 5 – 10 hợp tác xã NNƯDCNC, hình thành nền sản xuất hiện đại, hiệu quả và bền vững.
Trong lĩnh vực trồng trọt, Nghệ An đẩy mạnh phát triển sản xuất ứng dụng công nghệ cao (ƯDCNC) trên tổng diện tích khoảng 19.910 ha tại các xã, phường trong vùng. Các cây trồng chủ lực gồm lúa, rau củ quả, cây ăn quả (cam, bưởi, ổi, dứa), mía, chè và cây dược liệu, được áp dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật về giống, canh tác, tưới tiêu, bảo quản sau thu hoạch nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
Trong thời gian triển khai đề án, đặt mục tiêu phát triển sản xuất lúa ƯDCNC diện tích 8.000 ha, trong đó sản xuất lúa ƯDCNC áp dụng cơ giới hóa đồng bộ, công nghệ chính xác trong các khâu sản xuất như: Làm đất, gieo mạ, cấy máy, tưới nước, phun thuốc bảo vệ thực vật, thu hoạch, sấy khô, sản xuất lúa giảm phát thải, diện tích đạt 7.700 ha; sản xuất lúa giống ƯDCNC trong nhân giống có ứng dụng công nghệ sinh học, cơ giới hoá trong sản xuất, công nghệ xử lý hạt giống, công nghệ bảo quản,... với diện tích đạt 300 ha. Bên cạnh đó, phát triển sản xuất mía nguyên liệu ƯDCNC, diện tích khoảng 5.000 ha; cây ăn quả 1.160 ha; rau củ quả đạt 850 ha; cây chè đạt 4.000 ha;…
Đối với chăn nuôi, tỉnh Nghệ An chú trọng phát triển các trang trại tập trung theo hướng công nghiệp, hiện đại, ứng dụng công nghệ cao trong quản lý đàn, kiểm soát dịch bệnh và bảo vệ môi trường. Dự kiến hình thành từ 80 – 90 trang trại chăn nuôi ƯDCNC; trong đó, đàn bò sữa nuôi ƯDCNC đạt 100% tổng đàn, bò thịt từ 5 – 10%, lợn đạt 70% và gà khoảng 30% tổng đàn của vùng.
Riêng phát triển chăn nuôi bò sữa ƯDCNC với diện tích 347 ha, số lượng 93.000 con và phát triển các trang trại chăn nuôi bò thịt có tổng diện tích 16,0 ha, số lượng đạt 8.000 con.
Trong lĩnh vực lâm nghiệp, Nghệ An định hướng phát triển diện tích rừng trồng gỗ lớn, có giá trị kinh tế cao đạt khoảng 34.200 ha, trong đó khoảng 22.000 ha được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FSC, PEFC). Đồng thời, xây dựng hệ thống vườn ươm giống cây lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao với diện tích khoảng 10 ha, góp phần nâng cao chất lượng giống và hiệu quả sản xuất rừng.
Song song với sản xuất, công nghiệp chế biến nông, lâm sản được xác định là khâu then chốt. Tỉnh tập trung nâng cao năng lực các nhà máy, cơ sở chế biến hiện có; đẩy mạnh đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất theo hướng ứng dụng công nghệ cao; đồng thời tiếp tục thu hút đầu tư vào lĩnh vực chế biến nông, lâm sản. Các chuỗi liên kết từ sản xuất, bảo quản, chế biến và tiêu thụ gắn với vùng nguyên liệu tập trung từng bước được hình thành và hoàn thiện.
Phấn đấu mỗi năm, công nghiệp chế biến nông, lâm sản và dược liệu của toàn vùng tăng trưởng khoảng 15%, đóng góp từ 20 – 30% tổng giá trị sản phẩm nông, lâm sản của tỉnh. Qua đó, nhiều mặt hàng nông, lâm sản của vùng hành lang kinh tế đường Hồ Chí Minh sẽ từng bước khẳng định thương hiệu, đáp ứng tốt nhu cầu thị trường trong nước và hướng mạnh ra xuất khẩu, góp phần phát triển nông nghiệp Nghệ An theo hướng hiện đại và bền vững.
Nhiều giải pháp trọng tâm được đặt ra
Để hiện thực hóa mục tiêu phát triển NNƯDCNC theo hướng hiện đại, bền vững tại vùng hành lang kinh tế đường Hồ Chí Minh, Nghệ An đã đặt ra nhiều giải pháp trọng tâm, phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng địa phương.
Trước hết là giải pháp về quy hoạch sử dụng đất, giao đất và dồn điền đổi thửa, tỉnh tập trung đẩy nhanh công tác quy hoạch các vùng sản xuất NNƯDCNC theo từng lĩnh vực, từng sản phẩm chủ lực; trong đó đặc biệt chú trọng bảo vệ quỹ đất sản xuất nông nghiệp nhằm bảo đảm tính ổn định lâu dài cho các vùng đã được quy hoạch. Cùng với đó, tiến hành rà soát, đánh giá hiện trạng sử dụng đất; khai thác hiệu quả diện tích đất rừng được chuyển đổi mục đích sử dụng; chuyển đổi đất nông nghiệp kém hiệu quả sang phát triển các sản phẩm nông, lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nhất là chuyển đổi, cải tạo đất để trồng cây ăn quả.
Các xã, phường, doanh nghiệp và hợp tác xã trong vùng được lựa chọn xây dựng vùng sản xuất NNƯDCNC có trách nhiệm lập hồ sơ, trình UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch với quy mô phù hợp, bảo đảm ổn định lâu dài về đất đai. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để triển khai quy hoạch chi tiết theo từng vùng, từng cây trồng, vật nuôi cụ thể, đồng thời xây dựng kế hoạch đầu tư đồng bộ, hiệu quả. Sau khi hoàn thành quy hoạch và dồn điền đổi thửa, địa phương tạo điều kiện thuận lợi cho việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài, giúp các tổ chức, cá nhân yên tâm đầu tư và có đủ điều kiện pháp lý tiếp cận nguồn vốn tín dụng.
Song song với đó, giải pháp phát triển sản xuất gắn với chế biến nông nghiệp công nghệ cao được Nghệ An xác định rõ phải phù hợp với điều kiện tự nhiên của từng vùng; gắn sản xuất với thị trường tiêu thụ, hình thành mối liên kết chặt chẽ giữa nông nghiệp, chế biến và dịch vụ thị trường. Trên cơ sở đó, xây dựng các vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa tập trung, ứng dụng công nghệ mới nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế.
Tỉnh tiếp tục định hướng hình thành các cụm dân cư nông nghiệp văn minh, hiện đại, xanh dọc hành lang đường Hồ Chí Minh, gắn với các trung tâm sản xuất, chế biến nông sản như trung tâm sữa, thịt; trung tâm rau quả và nông sản tinh hoa; các đô thị nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Đồng thời, nghiên cứu xây dựng trung tâm chuyển giao công nghệ và quảng bá sản phẩm nông nghiệp.
Việc lựa chọn sản phẩm chủ lực của vùng được xác định dựa trên lợi thế so sánh và xu hướng tiêu dùng mới, như nông nghiệp hữu cơ, thực phẩm chức năng, thực phẩm dinh dưỡng. Trong đó, ưu tiên phát triển các sản phẩm rau quả, đặc biệt là cây ăn quả chất lượng cao, cây có múi không hạt; một số loại rau củ phù hợp điều kiện sinh thái; cây lâm nghiệp và cây công nghiệp dài ngày cho gỗ lớn, giá trị kinh tế cao; cùng với các vật nuôi có thế mạnh và khả năng mở rộng quy mô.
Phát triển NNƯDCNC được đặt trên hai nền tảng cơ bản: áp dụng công cụ, công nghệ sản xuất tiên tiến và tổ chức hệ thống sản xuất dựa trên doanh nghiệp, hợp tác xã với quy mô công nghiệp, quản lý theo chuỗi từ đồng ruộng đến tiêu dùng. Các vùng sản xuất được tổ chức giám sát chặt chẽ, hướng tới sản xuất hữu cơ đồng bộ, truy xuất minh bạch nguồn gốc, xây dựng các mô hình sản xuất hữu cơ và bảo quản sau thu hoạch theo chuỗi khép kín, thân thiện môi trường và có sức cạnh tranh cao.
Về nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách sẽ được lồng ghéo hiệu quả các cơ chế, chính sách của Trung ương và địa phương như: chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn; khuyến khích hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản; hỗ trợ bảo vệ đất trồng lúa; thu hút đầu tư vào nông nghiệp; hỗ trợ phát triển khu, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Đồng thời, lồng ghép hiệu quả các nguồn vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia (xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi…) và các chương trình, dự án hỗ trợ khác; huy động tối đa nguồn lực từ người dân, doanh nghiệp và các tổ chức để thực hiện các mục tiêu của đề án.
Đối với giải pháp về khoa học và công nghệ cần được đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ cao vào các khâu sản xuất, chăn nuôi, chế biến và tiêu thụ nông sản. Ưu tiên áp dụng công nghệ cao trong sản xuất giống, canh tác, phòng trừ dịch hại, thu hoạch, chế biến, tiêu thụ; đồng thời phát triển sản xuất vật tư, chế phẩm và vật liệu phụ trợ cho nông nghiệp như nhà lưới, bao bì, giá thể… gắn với các quy trình sản xuất bền vững theo hướng giảm phát thải, hữu cơ, xanh, tuần hoàn, VietGAP, GlobalGAP.
Mặt khác, tỉnh cũng chú trọng nghiên cứu chọn tạo giống và công nghệ sản xuất giống cây trồng năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu, có khả năng chống chịu điều kiện bất lợi; tập trung vào các cây trồng có lợi thế cạnh tranh như cây ăn quả, mía, chè… Đồng thời, xây dựng và hoàn thiện các quy trình kỹ thuật theo hướng ứng dụng công nghệ cao, thâm canh tăng năng suất, sản xuất hữu cơ gắn với chuỗi giá trị, góp phần nâng cao chất lượng nông sản, bảo đảm an toàn thực phẩm và giảm chi phí đầu vào cho người sản xuất.
Bên cạnh đó, Nghệ An còn đặc biệt chú trọng triển khai đồng bộ nhiều giải pháp hỗ trợ khác nhằm bảo đảm tính hiệu quả và bền vững trong quá trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao như: Giải pháp về thu hút đầu tư và quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn đầu tư; giải pháp về xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu, mở rộng thị trường, gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm bền vững; giải pháp tiếp cận thị trường online, xúc tiến xuất khẩu chính ngạch để quảng bá và mở rộng thị trường tiêu thụ; giải pháp về đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng; giải pháp về phát triển nguồn nhân lực; giải pháp về bảo vệ môi trường, sử dụng tài nguyên hợp lý, giảm phát thải, phát triển nông nghiệp xanh, tuần hoàn cũng được lồng ghép chặt chẽ trong quá trình triển khai, góp phần hướng tới mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững và lâu dài trên địa bàn tỉnh.