news
Nghị quyết số 68 về phát triển kinh tế tư nhân trong phát triển Chăn nuôi và Thú y

Nghị quyết số 68 về phát triển kinh tế tư nhân trong phát triển Chăn nuôi và Thú y

Thứ năm, 2/4/2026, 06:59 (GMT+7)
logo Kinh tế tư nhân (KTTN) là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế Việt Nam. Sau 40 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước, Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 04/05/2025 của Bộ Chính trị khóa XIII về “Phát triển KTTN” khẳng định, KTTN là một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đảng, Nhà nước ta nhận thức ngày càng rõ hơn vị trí, vai trò, tầm quan trọng của phát triển KTTN và doanh nhân trong phát triển chăn nuôi và thú y. Đây được kỳ vọng sẽ tạo ra đột phá chiến lược theo hướng năng động, sáng tạo, khẳng định vai trò không thể thiếu của KTTN và doanh nhân trong lĩnh vực chăn nuôi và thú y.
anh-man-hinh-2026-03-29-luc-09.43.17_1774752237.png
Đại tá, PGS, TS. KHQS Trần Nam Chuân

Phát triển KTTN và doanh nhân khu vực chăn nuôi và thú y là một động lực quan trọng để phát triển kinh tế đất nước trong kỷ nguyên mới. Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng với KTTN và doanh nhân là nòng cốt để phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ định hướng xã hội chủ nghĩa. Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để KTTN và doanh nhân trong lĩnh vực chăn nuôi và thú y phát triển nhanh, bền vững, đa dạng với tốc độ tăng trưởng cao cả về số lượng, quy mô, chất lượng và tỉ trọng đóng góp trong GDP là nhiệm vụ quan trọng.

Tư duy mới của Đảng, Nhà nước về phát triển KTTN và doanh nhân trong Chăn nuôi và Thú y

Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 04/05/2025 của Bộ Chính trị khóa XIII về “Phát triển KTTN” chỉ rõ: KTTN là lực lượng quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia, góp phần xóa đói, giảm nghèo, ổn định đời sống xã hội. Nhiều doanh nhân trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, trong đó có ngành Chăn nuôi và Thú y đã phát triển lớn mạnh, khẳng định thương hiệu và vươn ra thị trường trong nước, khu vực và  thế giới.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chỉ rõ: Việc ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW thể hiện rõ định hướng chiến lược, nhất quán của Đảng về vai trò, vị trí của KTTN trong sự nghiệp phát triển đất nước. Nghị quyết số 68 xác định phát triển KTTN và doanh nhân trong lĩnh vực chăn nuôi, thú y của Việt Nam là một trong những động lực góp phần quan trọng vào phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập sâu rộng, hiệu quả, bền vững.

Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 04/05/2025 của Bộ Chính trị khóa XIII về “Phát triển KTTN” chỉ rõ: KTTN là lực lượng quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia, góp phần xóa đói, giảm nghèo, ổn định đời sống xã hội. Nhiều doanh nhân trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, trong đó có ngành Chăn nuôi và Thú y đã phát triển lớn mạnh, khẳng định thương hiệu và vươn ra thị trường trong nước, khu vực và  thế giới.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chỉ rõ: Việc ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW thể hiện rõ định hướng chiến lược, nhất quán của Đảng về vai trò, vị trí của KTTN trong sự nghiệp phát triển đất nước. Nghị quyết số 68 xác định phát triển KTTN và doanh nhân trong lĩnh vực chăn nuôi, thú y của Việt Nam là một trong những động lực góp phần quan trọng vào phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập sâu rộng, hiệu quả, bền vững.

Nội dung trọng tâm của Nghị quyết tập trung vào việc xây dựng môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, công bằng, minh bạch; hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển đồng bộ các loại thị trường; đổi mới tư duy quản lý; đẩy mạnh cải cách hành chính; hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo và thúc đẩy doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh, cạnh tranh lành mạnh trong nước cũng như trong trong khu vực và quốc tế.

Kinh tế tư nhân và doanh nhân trong chăn nuôi và thú y hiện nay là một thành phần của nền kinh tế quốc dân, dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất; tồn tại dưới các hình thức kinh tế hộ gia đình cá thể, tiểu chủ và doanh nghiệp tư nhân trong và ngoài nước; hoạt động ở tất cả các ngành, nghề, lĩnh vực mà pháp luật cho phép. Về quan hệ phân phối kết quả sản xuất, KTTN dựa trên tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và sức lao động của bản thân là chủ yếu, nên kết quả lao động chủ yếu thuộc về chính họ hay cá nhân đó. Đối với KTTN, phân phối cho người lao động theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động.

Phát triển KTTN và doanh nhân trong lĩnh vực chăn nuôi và thú y đang bước vào kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Đây là thời kỳ phát triển đất nước giàu mạnh dưới sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các nước trong khu vực và trên thế giới. Mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hỗ trợ phát triển, làm giàu; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của đất nước, hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu.

Tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 66 và 68 của Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: Về phát triển KTTN, Đảng ta đã có quá trình nhận thức ngày càng đầy đủ, đúng đắn và nhất quán về vai trò của khu vực KTTN. Nghị quyết số 68 là bước tiến mới đột phá trong nhận thức và hành động, thể hiện quyết tâm chính trị cao của Đảng, Nhà nước trong việc khơi dậy mọi tiềm năng, nguồn lực từ khu vực tư nhân để cùng phát triển đất nước, giữ vững độc lập tự chủ, bảo đảm an sinh xã hội và hội nhập quốc tế hiệu quả. Theo đó, yêu cầu đối với chủ thể của khu vực KTTN trong nông nghiệp và môi trường không chỉ đòi hỏi phải có trình độ quản lý mà còn phải là người có kiến thức, trình độ chuyên môn về nông nghiệp và môi trường.

mo-hinh-trang-trai-heo-thit-thong-minh-1_1774752424.jpg
Mô hình nuôi lợn theo hướng công nghệ cao, chăn nuôi xanh đang được các doanh nghiệp chăn nuôi đầu tư mở rộng. Ảnh TTXVN

Thành tựu phát triển KTTN trong Chăn nuôi và Thú y ở Việt Nam

Trong bối cảnh ngành Chăn nuôi và Thú y Việt Nam đang đổi mới, hội nhập, chuyển mình mạnh mẽ, vai trò của KTTN và doanh nhân trong lĩnh vực hăn nuôi và thú y đã trở thành yếu tố then chốt quyết định và là trụ đỡ cho sự thành bại của nền KTTN. Ngày nay, ngành Chăn nuôi, Thú y nước ta không chỉ có vị trí, vai trò quan trọng trong việc định hình mô hình kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường mà còn góp phần quan trọng vào sự phát triển nền kinh tế đất nước trong kỷ nguyên mới.

Xây dựng, phát triển ngành Chăn nuôi và Thú y bền vững là mô hình sản xuất đảm bảo hiệu quả phát triển KTTN và doanh nhân; trách nhiệm xã hội và bảo vệ môi trường trong dài hạn. Trong hệ thống này, các nhà khoa học chuyên ngành và các bác sĩ thú y đóng vai trò là “người kiến trúc sư” thiết kế và duy trì sức sống toàn diện của ngành Chăn nuôi, Thú y, từ vật nuôi đến môi trường xung quanh.

Theo Tổ chức Thú y thế giới (OIE), một hệ thống chăn nuôi, thú y hiệu quả có thể giúp giảm thiểu tổn thất kinh tế do dịch bệnh, góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững của ngành Chăn nuôi và Thú y. Việc đầu tư vào hệ thống chăn nuôi và thú y không chỉ bảo vệ sức khỏe động vật mà còn đảm bảo an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng.

Những năm qua, phát triển KTTN và doanh nhân trong chăn nuôi và thú y ở Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng, đóng góp ngày càng to lớn hơn vào sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách từng bước được hoàn thiện. Quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh của cá nhân và tổ chức được thể chế hoá và được pháp luật bảo vệ. Phương thức quản lý của Nhà nước đối với KTTN và doanh nhân được đổi mới phù hợp hơn với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính được đẩy mạnh; môi trường đầu tư, kinh doanh từng bước được cải thiện, thông thoáng, thuận lợi hơn. Dân chủ rộng rãi trong đời sống kinh tế - xã hội ngày càng được phát huy.

Khu vực KTTN và doanh nhân trong chăn nuôi, thú y đã từng bước phát triển trên nhiều phương diện, được tự do kinh doanh và đối xử bình đẳng hơn với các thành phần kinh tế khác, nhất là trong tiếp cận các yếu tố sản xuất và các loại thị trường; hiệu quả, sức cạnh tranh dần được nâng lên; hoạt động đa dạng ở hầu hết các ngành, lĩnh vực và các vùng, miền; bước đầu đã hình thành được một số tập đoàn KTTN có quy mô lớn, hoạt động đa ngành, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.

chan-nuoi-vn_1774752418.jpg
Chính quyền các cấp cần hỗ trợ xây dựng thương hiệu cho các mặt hàng nông sản chủ lực của doanh nghiệp tư nhân. Ảnh Chăn nuôi Việt Nam

Nhiệm vụ, giải pháp nâng cao hiệu quả phát triển KTTN và doanh nhân trong chăn nuôi, thú y thời kỳ mới

Để khu vực kinh tế tư nhân và đội ngũ doanh nhân trong lĩnh vực chăn nuôi, thú y phát triển nhanh, mạnh và bền vững; chủ động tham gia sâu vào chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước, khu vực và quốc tế, cần tập trung triển khai đồng bộ một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:

Trước hết, nhất quán nhận thức của các cấp uỷ, chính quyền, cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân và nhân dân về vị trí, vai trò của KTTN và doanh nhân trong chăn nuôi và thú y; củng cố niềm tin, khát vọng vươn lên và hành động mạnh mẽ của KTTN và doanh nhân Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Nhà nước kiến tạo, phục vụ, hỗ trợ KTTN và doanh nhân trong chăn nuôi và thú y phát triển nhanh, bền vững, không can thiệp hành chính vào hoạt động sản xuất, kinh doanh trái với nguyên tắc thị trường; xây dựng mối quan hệ giữa chính quyền với doanh nghiệp, doanh nhân khu vực chăn nuôi - thú y; cởi mở, thân thiện, đồng hành, liêm chính phục vụ, kiến tạo phát triển.

Đẩy mạnh công tác truyền thông, nâng cao nhận thức và hành động, khơi dậy tinh thần kinh doanh, khởi nghiệp, sự tự tin, tự cường, tự hào dân tộc của mọi người dân để thúc đẩy phát triển mạnh mẽ KTTN. Các cơ quan truyền thông, báo chí cần nâng cao chất lượng, hiệu quả thông tin tuyên truyền, bảo đảm khách quan, trung thực, đầy đủ, cổ vũ, lan toả những mô hình tốt, cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả, khích lệ tinh thần kinh doanh trong toàn xã hội. Nghiêm cấm các hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực, đưa thông tin sai lệch, không chính xác, ảnh hưởng đến doanh nghiệp, doanh nhân.

Hai là, tổ chức sắp xếp hoàn chỉnh quy hoạch và quản lý quy hoạch nhằm phát triển KTTN và doanh nhân trong Chăn nuôi và Thú y thời kỳ hội nhập. Theo đó, cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật của Nhà nước, cung cấp đầy đủ và kịp thời thông tin thị trường cũng như những định chế của hội nhập để phát triển KTTN và doanh nhân trong chăn nuôi và thú y; tiếp tục cải cách và nâng cao chất lượng dịch vụ của bộ máy hành chính ở cơ quan Bộ Nông nghiệp và Môi trường hiện nay; có chính sách cởi mở để thu hút KTTN và doanh nhân, đặc biệt là doanh nghiệp, doanh nhân đầu tư vào chăn nuôi, thú y; đồng thời khuyến khích các hộ cá thể đăng ký thành lập doanh nghiệp.

Các tổ chức, trung tâm, lực lượng có liên quan hành động mạnh mẽ, quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, có quyết tâm thật cao, nỗ lực thật lớn trong từng hoạt động cụ thể. Tích cực, chủ động phối hợp với người nông dân lắng nghe tâm tư, tình cảm, nguyện vọng phát triển KTTN và doanh nhân trong chăn nuôi, thú y; hướng dẫn về mặt kỹ thuật, nhân lực, vật lực, thị trường cho người nông dân và doanh nghiệp tư nhân khi sản phẩm đã làm ra.

Các cơ quan, ban, ngành có liên quan thường xuyên cập nhật, thông tin kịp thời, chính xác cho người nông dân và doanh nghiệp tư nhân về tình hình thị trường tiêu thụ sản phẩm trong và ngoài nước; phối hợp chặt chẽ với cơ quan, ban, ngành cấp trên giải quyết khó khăn, bảo đảm quyền và lợi ích cho người lao động.

Ba là, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm thông qua hợp đồng liên kết với các tổ chức. Đây là giải pháp cơ bản có vị trí, vai trò rất quan trọng nhằm khắc phục triệt để những hạn chế, thiếu xót trong phát triển khu vực KTTN và doanh nhân trong chăn nuôi, thú y hiện nay. Những sản phẩm của người nông dân, doanh nghiệp tư nhân làm ra cần có thị trường tiêu thụ sản phẩm rộng lớn, mang tính ổn định, bền vững, không chỉ đáp ứng nhu cầu trước mắt, mà còn đáp ứng nhu cầu lâu dài. Vì vậy, rất cần đến sự chung tay, góp sức của chính quyền địa phương, doanh nghiệp trên địa bàn, tạo động lực, niềm tin, khí thế mới cho người nông dân trong phát triển KTTN.

Khi người dân, doanh nghiệp gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ, chính quyền địa phương và các cấp có thẩm quyền phải là khâu trung tâm kết nối, đứng ra giải quyết, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho người nông dân. Cùng với đó, từng bước xây dựng thương hiệu cho các hàng nông sản chủ lực của doanh nghiệp tư nhân, tạo ra sức cạnh tranh hàng hoá chất lượng cao không những đáp ứng thị trường trong nước mà còn đáp ứng thị trường ngoài nước.

Nâng cao vai trò của các tổ chức hiệp hội đối với KTTN nói chung và trong lĩnh vực chăn nuôi và thú y nói riêng; liên kết đào tạo, từng bước nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu sản xuất và hội nhập; chính sách hỗ trợ đối với KTTN trong chăn nuôi và thú y khởi nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho người nông dân và doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn xã hội với lãi xuất thấp; huy động các nguồn lực xã hội khác để người nông dân yên tâm trong quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, không phải lo lắng về vấn đề thị trường, nguồn vốn.

Các cơ quan của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cần cụ thể hoá chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển KTTN, doanh nhân trong chăn nuôi và thú y một cách linh hoạt, sáng tạo tuỳ vào điều kiện, hoàn cảnh lịch sử, cụ thể ở từng khu vực, địa bàn, xác định những khu vực trọng tâm, trọng điểm để đầu tư, hỗ trợ, giúp đỡ người nông dân làm giàu chính đáng, hợp pháp trên chính mảnh đất quê hương. Xử lý nghiêm với những tổ chức, cá nhân lợi dụng khó khăn về nguồn vốn, thị trường để đầu cơ tích chữ, dồn ép người nông dân bán với giá rẻ; hoặc có những thủ đoạn trong kinh doanh, cạnh tranh không lành mạnh, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho người nông dân.

Bốn là, chủ động bồi dưỡng, giáo dục, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của KTTN và doanh nhân trong chăn nuôi và thú y. Đây vừa là nhiệm vụ vừa là giải pháp quan trọng trong phát triển KTTN trong lĩnh vực chăn nuôi và thú y hiện nay. Phát triển KTTN và doanh nhân khu vực chăn nuôi và thú y trong kỷ nguyên mới cần rất nhiều nguồn lực ở các lĩnh vực, hoạt động cụ thể. Đây là ngành đòi hỏi phải có nhiều nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu của thị trường sản phẩm. Bởi vậy, cần tập trung đào tạo nâng cao năng lực, kỹ thuật, sự hiểu biết các vấn đề xã hội cho những người làm KTTN khu vực chăn nuôi, thú y.

Nâng cao trình độ dân trí, nắm bắt và dự báo được xu hướng phát triển của thị trường, kịp thời đề ra các phương án hữu ích, phù hợp, hiệu quả cho từng lĩnh vực, hoạt động cụ thể mỗi khi thị trường có những biến động. Chủ động tìm hiểu, sáng tạo trong nghiên cứu về thông tin thị trường trong nước, gắn với thị trường khu vực và quốc tế. Từ đó, đưa ra dự báo “từ sớm”, “từ xa” bảo đảm phát triển KTTN ở những ngành, lĩnh vực mà thị trường cần, không chỉ đáp ứng nhu cầu trước mắt mà còn mang tính lâu dài.

Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, cần khơi nguồn nhân tài và thu hút chuyên gia công nghệ cao. Cần tăng cường những chính sách để thu hút nhân tài công nghệ cao, xây dựng môi trường làm việc hấp dẫn, hỗ trợ nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, từ đó nâng cao năng lực nội địa và tạo ra các doanh nghiệp công nghệ số hàng đầu. Xây dựng hệ sinh thái công nghệ số bền vững. Đẩy mạnh phát triển hệ sinh thái công nghệ số với sự liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, các trường đại học, các viện nghiên cứu của các tổ chức; hỗ trợ thúc đẩy các sáng kiến hợp tác công tư, thu hút nguồn lực từ các doanh nghiệp, doanh nhân, quỹ đầu tư, các tổ chức quốc tế để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ công nghệ số đa dạng, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.

Cùng với đó, từng bước hình thành và phát triển các lĩnh vực kinh tế số như Chính phủ số, Kinh tế số và Xã hội số. Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp công nghệ số phát triển các giải pháp công nghệ ứng dụng vào quản lý nhà nước, nâng cao chất lượng dịch vụ công, thúc đẩy giao dịch điện tử, và tăng cường khả năng tiếp cận công nghệ thông tin cho mọi người dân.

Tăng cường hợp tác quốc tế,  tích cực, chủ động tham gia định hình các khuôn khổ, nguyên tắc, quản trị về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong các cơ chế hợp tác đa phương; Hình thành mạng lưới các nhà nghiên cứu khoa học tìm kiếm cơ hội áp dụng đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào các hoạt động quản lý hiệu quả, qua đó phát triển KTTN và doanh nhân khu vực chăn nuôi và thú y trong kỷ nguyên mới./.                                                                                     

Tài liệu tham khảo:

1. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, ngày 03/6/2017 về “Phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, II, Nxb CTQG-ST, Hà Nội 2021.

3. Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

4. Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị khóa XIII về: “Phát triển kinh tế tư nhân”.

                                                                            

Đại tá, PGS, TS. KHQS Trần Nam Chuân - Nguyên Cán Bộ Viện Chiến lược và Lịch sử Quốc phòng Việt Nam