Nỗ lực thay đổi công tác dự báo, phát triển theo hướng hiện đại hóa, phục vụ phát triển bền vững

Thứ ba, 4/2/2025, 04:30 (GMT+7)
logo Thiên tai cực đoan, phá vỡ kỷ lục lịch sử ngày càng xuất hiện nhiều, số lượng các cơn bão nhiều nhất từ trước đến nay (nhiều cơn bão mạnh, xuất hiện cả siêu bão), mưa lớn kỷ lục, lũ vượt lịch sử, băng tuyết xuất hiện ở các tỉnh vùng núi phía Bắc và Bắc Trung bộ, hạn hán xâm nhập mặn khốc liệt,... Trong 10 năm trở lại đây, Ngành Khí tượng Thủy văn đã theo dõi dự báo, cảnh báo hàng trăm cơn bão, áp thấp nhiệt đới, các đợt mưa lớn, đợt không khí lạnh, trận lũ, đợt nắng nóng,...

Nỗ lực thay đổi công tác dự báo, phát triển theo hướng hiện đại hóa, phục vụ phát triển bền vững

Khí tượng thủy văn có vai trò quan trọng trong phát triển bền vững

Biến đổi khí hậu với nóng lên toàn cầu, nước biển dâng đang làm trầm trọng hơn các thiên tai thường xảy ra. Dưới tác động của biến đổi khí hậu các hiện tượng thời tiết cực đoan còn gia tăng về cường độ và tần suất. Việt Nam có bờ biển dài và nằm trong vùng giao tranh của các hệ thống gió mùa lớn nên thường xảy ra các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, áp thấp nhiệt đới, rét hại, nắng nóng, khô hạn dài ngày, mưa lớn, lũ lớn. Về bão theo đánh giá của các nhà chuyên môn chưa có dữ liệu nói về tần suất bão tăng hay giảm nhưng có dấu hiệu cho thấy, sự gia tăng các cơn bão có cường độ mạnh. Điều này được lý giải, bão hình thành chủ yếu từ trên biển, nhiệt độ mặt biển nóng hơn, lượng hơi nước nhiều lên tạo điều kiện hình thành và phát triển các cơn bão mạnh.

Tại Việt Nam những năm qua liên tiếp xuất hiện bão mạnh cấp 12 trở lên trên Biển Đông và đổ bộ vào đất liền, chỉ trong vòng 5-6 năm, chúng ta hứng chịu khoảng 5-6 cơn bão trên cấp 12. Xu thế bão mạnh sẽ nhiều hơn, tác động đến đất liền cũng nhiều hơn. Hiện tượng El Nino và La Nina luân phiên thay đổi theo chu kỳ 5-7 năm cũng tác động đến thiên tai, thời tiết. Những năm El Nino, bão ít nhưng thường xuất hiện các cơn bão mạnh, dị thường. Những năm La Nina bão nhiều hơn nhưng thường là bão yếu và nhanh. Ngoài ra, dưới tác động của biến đổi khí hậu, mưa lớn cực đoan, đặc biệt là mưa cường suất lớn trong thời gian ngắn xảy ra ngày càng nhiều. Xuất hiện các đợt mưa lớn 300-500 mm trong vòng 6 giờ, hay như tại Quảng Ninh, mưa trong vòng vài ngày lên tới khoảng 2000 mm. Mưa cực đoan xuất hiện theo xu thế mưa nhiều, mưa dài ngày, cường suất mưa rất lớn; hậu quả tiếp theo là lũ quét, sạt lở đất, ngay cả vùng đô thị ven biển cũng có thể ngập lụt do mưa cường suất lớn; nước biển dâng cũng ngày càng nghiêm trọng,... Nắng nóng, liên tiếp các kỷ lục nắng nóng được xác lập trong những năm qua trên toàn cầu và Việt Nam. Chúng ta thường nghe đến kỷ lục nắng nóng nhưng ngay sau đó lại xuất hiện nhiệt độ phá kỷ lục vừa thiết lập, ví dụ tại Việt Nam, trong 2023-2024 đã hơn 100 lần các kỷ lục nhiệt độ cao nhất được phá vỡ. Kỷ lục nắng nóng cao nhất ở Việt Nam ghi nhận tại Tương Dương, Nghệ An là 44,2 độ, vào năm 2023.

Hiện nay cũng xuất hiện các khoảng thời gian không mưa kéo dài, dẫn đến hạn hán, xâm nhập mặn khốc liệt hơn, một phần do biến đổi khí hậu, một phần do việc sử dụng nước trên các lưu vực sông. Lũ quét, sạt lở đất cũng ngày càng nhiều, bất ngờ hơn do mưa lớn cực đoan và các hoạt động phát triển KT-XH dẫn đến biến đổi địa hình, địa chất.

TS. Hoàng Đức Cường, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục KTTV cho biết, công tác KTTV có vai trò quan trọng trong các hoạt động kinh tế, đời sống xã hội, QP-AN; bao gồm các hoạt động quản lý, khai thác mạng lưới trạm quan trắc; giám sát BĐKH; tác động vào thời tiết. Thông tin, dữ liệu KTTV có vai trò, ảnh hưởng tới 11/17 mục tiêu phát triển bền vững; đã và đang là cơ sở dữ liệu “đầu vào” của hầu hết các ngành, lĩnh vực kinh tế, đời sống xã hội, nhất là đối với công tác PCTT. Nhiệm vụ công tác mạng lưới trạm KTTV triển khai rộng khắp trên toàn mạng lưới, với các nội dung: Giữ gìn, bảo dưỡng máy móc, thiết bị, công trình KTTV trước mùa mưa, bão, lũ; đảm bảo đầy đủ các phương tiện đo, đạt tiêu chuẩn kỹ thuật; kiểm định kịp thời máy, thiết bị đo, đáp ứng yêu cầu của mạng lưới. Thực hiện tốt các quy trình, quy định trong chuyên môn nghiệp vụ; theo dõi kịp thời về tình hình KTTV, nhất là các hiện tượng KTTV nguy hiểm,... Công tác này được các Đài KTTV khu vực, các trạm và các quan trắc viên nhiệt liệt hưởng ứng, phấn đấu vượt mọi khó khăn để thu thập đầy đủ các yếu tố KTTV. Kết quả là: Chất lượng tài liệu điều tra cơ bản hàng năm đối với các yếu tố khí tượng, thuỷ văn, hải văn, khí tượng nông nghiệp, khí tượng cao không, môi trường nước và không khí của các đơn vị đều được xếp loại tốt và vượt chỉ tiêu chất lượng được giao. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ý thức trách nhiệm trong thực hiện quy trình, quy định của cán bộ, quan trắc viên thường xuyên được ôn luyện và nâng lên, góp phần giữ vững và nâng cao chất lượng điều tra cơ bản, phục vụ kịp thời cho nhiệm vụ dự báo KTTV ở Trung ương và địa phương,...

Với sự chỉ đạo của Lãnh đạo Tổng cục, sự hưởng ứng nhiệt tình của đội ngũ quan trắc viên trên toàn mạng lưới, nên khi xảy ra bão to, lũ lớn, mặc dù trang thiết bị, công trình đo đạc ở một số trạm bị hư hỏng,... nhưng các Trạm KTTV trên toàn mạng lưới luôn đảm bảo quan trắc liên tục, đúng quy trình, quy định, đo được các đặc trưng bão, lũ,... điện báo kịp thời về Trung tâm Dự báo KTTV quốc gia, không để mất số liệu, phục vụ tốt công tác dự báo. Mạng lưới trạm trong những năm qua được duy trì ổn định và phát triển. Ngành KTTV đang đầu tư nâng cấp mạng lưới trạm quan trắc KTTV hiện đại, đồng bộ, chuyển dần từ đo thủ công sang tự động, đan dày các trạm quan trắc ở vùng núi, vùng sâu; trải khắp mọi miền đất nước có thể giám sát bão, áp thấp nhiệt đới khi tiến vào gần đất liền, qua đó có thể cảnh báo chính xác hơn cường độ, hướng di chuyển của bão. Mạng lưới trạm KTTV hiện nay đã phát huy được vai trò trong việc đảm bảo cung cấp số liệu phục vụ kịp thời cho công tác giám sát các hiện tượng KTTV phục vụ tốt cho công tác phòng, chống thiên tai. Toàn bộ dữ liệu KTTV trong và ngoài nước được tích hợp, tổ chức, lưu trữ, khai thác và cung cấp tại Trung tâm xử lý dữ liệu tập trung, các công tác nghiệp vụ dự báo, cảnh báo KTTV đều sử dụng dữ liệu tại Trung tâm Thông tin và Dữ liệu liệu KTTV, dữ liệu được chia sẻ đến các đơn vị phục vụ công tác điều hành, chỉ đạo về phòng chống thiên tai như: Văn phòng thường trực Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng, chống thiên tai. Triển khai trong nghiệp vụ hệ thống siêu máy tính CrayXC40 cho phép chi tiết hóa và nâng cao được khả năng chất lượng dự báo mưa lớn, qua đó tiếp tục nâng cao năng lực cảnh báo các hệ quả liên quan gồm: Ngập lụt, lũ, lũ quét và sạt lở đất ở Việt Nam.

Tăng cường dự báo, cảnh báo sớm, thông tin chi tiết, tin cậy

Hiện nay, Ngành KTTV nỗ lực thay đổi công tác dự báo, phát triển theo hướng hiện đại hóa, chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ hiện đại, tự động nhằm tạo ra các sản phẩm đa dạng, với chất lượng tốt hơn, phục vụ công tác phòng chống thiên tai, phát triển KT-XH, quốc phòng, an ninh. Theo đó, hệ thống dự báo đã có nhiều thay đổi, từ các dự báo thủ công, kinh nghiệm đã được chuyển đổi sang hệ thống dự báo số độ phân giải cao. Ngành đã tự vận hành được hệ thống mô hình dự báo thời tiết số có độ phân giải đến 3 km, tiến tới sẽ đạt mức 1-2 km, cho phép tích hợp các số liệu như radar, đo đạc tự động giúp nâng cao được khả năng chất lượng dự báo. Độ tin cậy trong các bản tin dự báo, cảnh báo thiên tai (áp thấp nhiệt đới, bão, lũ,...) đã được tăng lên; các công nghệ dự báo KTTV nằm trong nhóm các nước dẫn đầu Đông Nam Á và dần tiếp cận trình độ các nước tiên tiến ở châu Á, đặc biệt là trong dự báo, cảnh báo bão,, mưa lớn, rét đậm, rét hại, lũ lụt và nắng nóng. Độ chính xác về dự báo vị trí và cường độ bão hiện nay đã dần tiệm cận với trình độ dự báo của các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Trung bình hằng năm, các đơn vị thuộc hệ thống dự báo, cảnh báo KTTV quốc gia ở Trung ương và địa phương đã cung cấp trên 58.600 bản tin dự báo, cảnh báo KTTV cho các cơ quan ở Trung ương, địa phương, phục vụ đắc lực cho công tác PCTT.

Với nỗ lực không ngừng của Tổng cục KTTV trong việc tăng cường dự báo, cảnh báo sớm, thông tin KTTV không chỉ có vai trò quan trọng góp phần chủ động phòng tránh và giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai, bảo vệ cuộc sống và sinh kế của người dân mà hiện nay thông tin, dữ liệu KTTV là đầu vào quan trọng cho các ngành, lĩnh vực KT-XH và góp phần tích cực trong việc đảm bảo quốc phòng, an ninh quốc gia. Các bản tin dự báo, cảnh báo thiên tai phục vụ hiệu quả cho công tác ứng phó sự cố thiên tai và tìm kiếm cứu nạn trên phạm vi cả nước. Ngoài ra, Tổng cục KTTV đã thực hiện các bản tin chuyên đề phục vụ các hoạt động diễn tập và các hoạt động khác cần thông tin KTTV. Điển hình, đối với nông nghiệp: sản phẩm dự báo không chỉ dừng lại ở những con số nhiệt độ, lượng mưa trung bình mà còn có thể cung cấp số giờ nắng, độ ẩm, nhiệt độ, lượng mưa chi tiết theo từng thời kỳ mùa vụ. Xa hơn là các dự báo, cảnh báo về sâu bệnh, dự báo năng suất cây trồng theo các điều kiện thời tiết.

Đối với thủy điện: Ngành KTTV đang thực hiện các bản tin dự báo phục vụ Quy trình vận hành hồ chứa theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và có thể thực hiện tốt các bản tin dự báo nguồn nước đến các hồ phục vụ điều hành sản xuất điện.

Cảnh báo, dự báo sớm được coi là giải pháp quan trọng để giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra, phục vụ phát triển KT-XH bền vững. TS. Hoàng Đức Cường, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục KTTV cho biết, chúng tôi chọn cảnh báo sớm là một giải pháp quan trọng để dự báo sớm thiên tai với công tác phòng chống thiên tai, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra. Phương châm chúng tôi là: Dự báo sớm, chi tiết và tin cậy hơn. Dự báo là ước tính, dự kiến những cái xảy ra trong tương lai. Chúng ta không thể đưa ra dự kiến có chi tiết được mà khoảng xảy ra thôi. Bão, mưa lớn thì có thông tin sớm từ biển thì có thông tin khá chi tiết nên sẽ có thông tin sớm hơn. Còn các thiên tai đột xuất, không có nhiều loại hình quan trắc thì khó có thể dự báo sớm. Chúng tôi đặt vấn đề là: tin cậy hơn. Nhưng mỗi loại hình đặt ra độ tin cậy khác nhau. Để đạt được điều này cần nhiều giải pháp khác nhau ở cả xã hội và trong cả ngành.

Theo TS. Hoàng Đức Cường, với Trung tâm Dự báo KTTV, chúng tôi có đưa ra 4-5 giải pháp quan trọng như sau: Thứ nhất, chúng ta cần càng nhiều số liệu thì càng dự báo tốt. Cần đặt nhiều quan trắc dày hơn để có nhiều số liệu hơn. Vùng núi dày hơn để đánh giá kĩ lưỡng để cảnh báo sớm hơn, kĩ lưỡng hơn. Tuy nhiên, dù có đăng dày đến đâu cũng không thể phủ hết. Vì thế, chúng ta có thể lắp rada để có thể bớt sai số nhiều hơn. Thực tế, tổng cục có quy hoạch quan trắc dày đến đâu cũng không thể hết được. Thứ hai, tăng cường hệ thống công nghệ cảnh báo sớm. Phát triển mô hình hiện đại, công nghệ số, cảnh báo thông tin từ thiên tai, tự nhiên. Đây là công việc khổng lồ không thể có trong ngày một ngày hai được. Xu thế tất yếu là ứng dụng cách mạng 4.0 đặc biệt AI trong loại hình cảnh báo sớm. Trong đó, đồng thời sử dụng một lúc các sản phẩm khác nhau, hy vọng đưa ra được thông tin tin cậy nhất. Thứ ba, KTTV là không biên giới. Nên chúng ta cần hợp tác quốc tế và chia sẻ dữ liệu ở các nước. Tận dụng công nghệ tiên tiến các nước song phương và đa phương, đưa dữ liệu của Việt Nam vào mô hình hiện đại nhất của các nước trên thế giới. Thứ tư, ứng dụng các phương tiện hiện đại trong việc truyền tin trong đó truyền tin dễ hiểu, nhanh nhất dễ nhất đến các đối tượng người dân. Thiên tai là ở cộng đồng nên chỉ họ cần thông tin nhất. Ngoài ra, còn các giải pháp khác như: Nhân lực chất lượng cao vì chúng ta sẽ tự động hóa nhân lực quan trắc, tận dụng tối đa hợp tác quốc tế, cử cán bộ đi đào tạo nước ngoài; xã hội hóa vì nhà nước thôi là chưa đủ. Ngành KTTV được hưởng lợi nhưng doanh nghiệp và người dân cũng được hưởng lợi. Tiến tới chúng ta có thông tin nhanh nhất, chi tiết nhất, tin cậy nhất trong việc cảnh báo thiên tai.

HOÀNG NGUYÊN
Nguồn: Tạp chí Tài nguyên và Môi trường số 22 (Kỳ 2 tháng 11) năm 2024