Từ những cây trà Shan Tuyết cổ thụ trên đỉnh núi, Lào Cai đang mở ra hướng phát triển du lịch xanh gắn với văn hóa bản địa. Trong cuộc trao đổi với phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường, ông Nông Việt Yên - Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai chia sẻ về tiềm năng, định hướng và chiến lược đưa trà Shan Tuyết trở thành điểm nhấn của du lịch vùng Tây Bắc.
Ông Nông Việt Yên - Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai
Giữa núi rừng mây phủ, sương giăng và cái se lạnh đặc trưng của vùng cao Văn Chấn, Bắc Hà, Y Tý (Lào Cai), những cây trà Shan Tuyết cổ thụ sừng sững như những chứng nhân thời gian giữa thiên nhiên hùng vĩ. Trà Shan Tuyết không chỉ là đặc sản quý của vùng Tây Bắc mà còn là biểu tượng văn hóa, là sinh kế bền vững của đồng bào H’Mông, và đang mở ra hướng phát triển mới cho du lịch xanh.
Lào Cai hiện có tới 969.400 cây trà cổ thụ hoang dã, đứng đầu cả nước; riêng xã Văn Chấn - nơi được mệnh danh là “Đệ nhất kỳ quan trà thế giới” sở hữu 84.000 cây trà Shan Tuyết cổ thụ.
Là một trong những điểm sáng của mô hình du lịch gắn với nông sản bản địa, xã Văn Chấn hiện có hơn 293 ha rừng trà Shan Tuyết, nhiều cây có tuổi đời 200-300 năm, thậm chí hơn 400 năm. Nằm ở độ cao 1.300-1.500 m, vùng trà này hội tụ điều kiện khí hậu độc đáo tạo nên những búp trà phủ lông trắng mịn như tuyết, cho nước pha màu hổ phách (hoặc trắng trong với các dòng bạch trà), hương cốm non thanh khiết và hậu ngọt sâu đặc trưng.
Từ một sản vật của núi rừng, trà Shan Tuyết ngày càng khẳng định vai trò là “nguồn lực kinh tế” cho đồng bào Mông, góp phần ổn định sinh kế và nâng cao thu nhập. Khi xu hướng du lịch xanh phát triển, loại trà này càng được đặt vào vị trí trung tâm của chiến lược liên kết nông nghiệp - văn hóa - du lịch ở Lào Cai. Bài phỏng vấn dưới đây sẽ làm rõ hơn những định hướng, tiềm năng và giải pháp mà tỉnh đang triển khai để phát huy giá trị đặc biệt của cây trà cổ thụ.
PV:Xin chào ông! ông có thể chia sẻ định hướng của tỉnh Lào Cai trong việc phát triển sản phẩm bản địa và du lịch xanh tại vùng cao?
Ông Nông Việt Yên: Chúng tôi xác định rằng gìn giữ và bảo tồn gắn với phát triển du lịch xanh, bền vững là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu. Lào Cai hướng tới xây dựng điểm đến du lịch xanh, nơi thiên nhiên, văn hóa các dân tộc bản địa và các sản phẩm truyền thống được tôn vinh và phát huy giá trị. Trong số đó, trà Shan Tuyết tại Bắc Hà, Y Tý và đặc biệt là Văn Chấn chính là mô hình tiêu biểu mà tỉnh hướng đến. Đây là sản phẩm nông nghiệp đặc trưng, có khả năng kết nối tự nhiên với hoạt động du lịch trải nghiệm, vừa bảo tồn văn hóa, vừa tạo sinh kế và tăng thu nhập cho người dân.
PV: Theo ông, yếu tố nào tạo nên điểm khác biệt của trà Shan Tuyết và vì sao tỉnh Lào Cai lại đặc biệt quan tâm tới sản phẩm này?
Ông Nông Việt Yên: Trà Shan Tuyết thật sự là đặc sản rất riêng của vùng cao tỉnh Lào Cai, trong điều kiện khí hậu mát mẻ quanh năm, có sương mù và độ ẩm cao. Chẳng hạn, tại Văn Chấn ghi nhận các cây trà cổ thụ hàng trăm năm tuổi, thậm chí hơn 400 năm. Hơn nữa, sản phẩm còn mang giá trị văn hóa sâu sắc, đồng bào Mông gắn bó với cây trà như một phần của bản sắc. Khi doanh nghiệp, địa phương biết khai thác điều đó, biến sản phẩm thành trải nghiệm, thành câu chuyện, thì giá trị nhân rộng rất lớn.
PV:Ông có thể nói rõ hơn về “chuỗi giá trị” mà tỉnh Lào Cai và vùng đang hướng đến với cây trà Shan Tuyết cổ thụ tại Văn Chấn?
Ông Nông Việt Yên: Tôi thường nói về bốn mắt xích chính. Thứ nhất, vùng nguyên liệu và bảo tồn cây cổ thụ, giữ gìn rừng trà, cây trà cổ, canh tác ít tác động. Thứ hai, việc chế biến và nâng tầm chất lượng sản phẩm trà Shan Tuyết, từ hái chọn lá non (1 tôm, 1 lá hoặc 1 tôm 2 lá) trên cây vài trăm tuổi, sử dụng phương pháp thủ công truyền thống kết hợp công nghệ hiện đại trong việc vận chuyển đến nơi chế biến. Thứ ba, xây dựng thương hiệu và thị trường trà Shan Tuyết phải được nhận diện rõ ràng về nguồn gốc, tuổi cây, đặc trưng vùng cao, câu chuyện bản địa. Thứ tư là kết hợp giữa trà và du lịch trải nghiệm và văn hoá cộng đồng, biến bản làng trà thành điểm đến, du khách hái trà, tham gia chế biến trà, ở homestay, nghe tiếng khèn, thưởng trà cùng người H’Mông. Khi đó, người dân là chủ thể, thu nhập tăng lên, văn hóa được bảo tồn.
Lào Cai hiện đang phát triển mô hình “du lịch cộng đồng trải nghiệm nông nghiệp gắn với sản phẩm đặc sản” tiếp đó là hướng đến liên kết cả vùng Tây Bắc.
PV:Việc phát triển sản phẩm này sẽ giúp sinh kế người dân như thế nào, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số thưa ông?
Ông Nông Việt Yên: Rất rõ ràng, khi người dân tham gia vào quá trình liên kết chuỗi giá trị thì giá trị từ cây trà được tăng lên, không chỉ hái trà rồi bán thô, họ sẽ được hưởng lợi nhiều hơn. Ví dụ, tại xã Văn Chấn, cây trà cổ thụ được ghi nhận hơn 84.000 cây tuổi trên 200 năm đã trở thành nguồn thu ổn định, giảm nghèo bền vững cho người dân. Nếu kết hợp với du lịch, du khách tới hái trà, ở homestay, thưởng trà, người dân bản địa được trả công tốt hơn, giữ người trẻ ở lại, giữ gìn được bản sắc.
PV:Ông nhìn nhận như thế nào về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, du lịch và bảo tồn văn hóa?
Ông Nông Việt Yên: Tỉnh Lào Cai xác định mục tiêu phát triển “xanh, hài hòa, bản sắc và hạnh phúc”. Nếu chỉ phát triển kinh tế mà bỏ quên văn hóa, ta sẽ mất linh hồn vùng đất nếu chỉ nói bảo tồn mà không tạo ra giá trị thì người dân sẽ không có động lực tham gia. Tỉnh Lào Cai theo đuổi mô hình “bảo tồn động” tức là văn hóa được sống, được chia sẻ, được trải nghiệm.
Khi du khách thưởng trà Shan Tuyết tại bản làng, những người Mông hái trà, chế biến, phục vụ thì văn hóa được bảo tổn và kinh tế cũng được tạo ra.
PV:Xin ông chia sẻ kỳ vọng và bước tiếp của tỉnh Lào Cai với sản phẩm trà và du lịch vùng cao?
Ông Nông Việt Yên: Tôi mong muốn trong thời gian tới, Lào Cai sẽ thực sự trở thành điểm đến xanh - văn hóa - bản sắc của Việt Nam. Trà Shan Tuyết của tỉnh Lào Cai sẽ là “linh hồn thương hiệu vùng cao Tây Bắc”, hướng tới liên kết vùng, nâng cấp sản phẩm, nâng cao trải nghiệm du lịch.
Khi khách nâng chén trà cổ từ cây vài trăm tuổi, du khách không chỉ thưởng thức hương vị mà đang nếm trải cả lịch sử, thiên nhiên và văn hóa của người Mông. Đó là thông điệp và là niềm tự hào của vùng cao.
Tái hiện hành trình kết tinh tinh túy của trà Shan Tuyết, từ thiên nhiên và khí hậu vùng cao cho đến đời sống văn hóa gắn bó của đồng bào dân tộc.
Giữa vùng trời Tây Bắc mênh mang sương trắng, những cây trà Shan Tuyết vẫn trụ vững như biểu tượng của sức sống bền bỉ, của người Mông cần cù và văn hóa núi rừng không thể phai nhạt. Từ chén trà cổ thụ đượm vị đất trời, câu chuyện về phát triển du lịch xanh, về liên kết vùng và về hành trình khẳng định thương hiệu bản địa được viết tiếp bằng những người dành trọn tâm huyết gìn giữ và lan tỏa giá trị văn hóa vùng cao.
Hơn cả một sản phẩm nông nghiệp, trà Shan tuyết hôm nay mang trong mình sứ mệnh văn hóa, kết nối quá khứ với hiện tại, kết nối con người với thiên nhiên, và kết nối sinh kế với tự hào dân tộc. Với hướng đi đúng đắn, phát triển kinh tế gắn với bảo tồn bản sắc, Lào Cai cùng các tỉnh Tây Bắc đang khơi dậy một “hành trình xanh”, nơi mỗi giọt trà không chỉ làm ấm lòng du khách, mà còn thấm đẫm niềm tin vào tương lai của những bản làng trong mây.
Theo nhà sử học Dương Trung Quốc, với cơ sở lịch sử, khoa học và văn hóa ẩm thực, trà Shan Tuyết xứng đáng trở thành “thương hiệu trà đại diện quốc gia”. Ông nhấn mạnh việc bảo tồn các cây cổ thụ, mở rộng diện tích trồng, nâng cao chất lượng sản phẩm và gắn phát triển trà với du lịch sinh thái là bước cần thiết để khẳng định vị thế cho trà Shan Tuyết Việt Nam.
Theo ông Lê Huy Cường, Trưởng ban Kỹ thuật, Hội Cây Di sản Việt Nam, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam nhấn mạnh, để phát triển và nâng tầm chè Shan Tuyết, cần xây dựng chiến lược bảo tồn, quy hoạch vùng chè, bố trí hạ tầng du lịch, thành lập bộ phận quản lý di sản.
Xã Tà Xùa (tỉnh Sơn La) nằm ở độ cao hơn 1.500 mét, nơi mây mù như tấm voan trắng quàng lên những sườn núi, tạo nên vẻ đẹp hoang sơ mà quyến rũ đến lạ. Giữa biển mây cuồn cuộn ấy, vùng đất được ví như “cô gái đẹp đang ngủ say” vẫn âm thầm nuôi dưỡng những giá trị riêng: có khí hậu lạnh quanh năm, sương mù dày đặc, tất cả hội tụ để hình thành nên những sản vật đặc hữu. Những sản phẩm ấy đã trở thành sinh kế chủ lực cho người dân, đồng thời mở ra hướng phát triển kinh tế bền vững gắn với bảo tồn hệ sinh thái. Nhằm làm rõ định hướng phát triển trong thời gian tới, phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với ông Đỗ Văn Xiêm, Chủ tịch UBND xã Tà Xùa để hiểu rõ hơn hành trình khai thác và phát huy giá trị nông nghiệp đặc sản của vùng đất giữa mây trời này.
Việt Nam, đất nước được thiên nhiên ưu đãi với những đồi chè xanh mướt, đã và đang khẳng định vị thế là một trong những cường quốc xuất khẩu chè trên thế giới. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu và yêu cầu ngày càng khắt khe về chất lượng của thị trường quốc tế, ngành chè Việt Nam đứng trước một thách thức lớn: làm thế nào để nâng cao giá trị sản phẩm, thoát khỏi vị thế xuất khẩu nguyên liệu thô? Câu trả lời nằm ở hai trụ cột chiến lược: Đổi mới công nghệ chế biến và Tiêu chuẩn hóa sản phẩm, đặc biệt là đối với loại chè đặc sắc, quý hiếm như Shan tuyết cổ thụ. Đây chính là con đường để chè Việt Nam không chỉ "có mặt" mà còn "có giá" trên bản đồ thương mại quốc tế.
Ông Hoàng Vĩnh Long, Chủ tịch Hiệp hội Chè Việt Nam nhấn mạnh, chè Shan tuyết Suối Giàng là tổng hòa giá trị tự nhiên, kinh tế và văn hóa, hội tụ đủ yếu tố để trở thành thương hiệu chè đặc sản quốc gia. Để đạt được điều này, cần chiến lược phát triển thương hiệu bền vững, đặt trọng tâm vào bản sắc văn hóa và bảo tồn sinh thái, tích hợp khoa học - công nghệ và marketing hiện đại.