Việt Nam là một trong những quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Việc xây dựng thương hiệu “gạo xanh” không chỉ là câu chuyện nâng cao giá trị sản phẩm mà còn thể hiện cam kết mạnh mẽ của Việt Nam đối với phát triển bền vững, thân thiện với môi trường và trách nhiệm với cộng đồng quốc tế. Từ thực tiễn triển khai các mô hình sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp, Việt Nam đang từng bước định hình thương hiệu “Gạo Việt xanh phát thải thấp”, mở ra hướng đi mới cho ngành lúa gạo.
Theo PGS, TS. Bùi Bá Bổng, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (PTNT), Chủ tịch Hiệp hội ngành hàng lúa gạo Việt Nam (VIETRISA), Việt Nam từ lâu đã khẳng định vị thế trên bản đồ lúa gạo thế giới với sản lượng xuất khẩu đạt hàng triệu tấn mỗi năm. Tuy nhiên, giá trị gia tăng của hạt gạo vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Một trong những nguyên nhân là do sản xuất còn phụ thuộc nhiều vào phương thức truyền thống, tiêu tốn tài nguyên và phát thải khí nhà kính ở mức cao.
Trong bối cảnh đó, việc chuyển đổi sang mô hình sản xuất xanh, giảm phát thải trở thành yêu cầu cấp thiết. Đặc biệt, tại Đồng bằng sông Cửu Long, vùng chiếm hơn 50% sản lượng lúa cả nước, các giải pháp canh tác bền vững đang được triển khai mạnh mẽ, gắn với Đề án phát triển một triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp đến năm 2030. Đây không chỉ là chương trình sản xuất mà còn là nền tảng để xây dựng thương hiệu quốc gia cho hạt gạo Việt Nam trong giai đoạn mới.
PGS, TS. Bùi Bá Bổng cho rằng, thương hiệu không thể tồn tại nếu thiếu tiêu chuẩn. Đối với “Gạo Việt xanh phát thải thấp”, hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật được xây dựng chặt chẽ, dựa trên quy trình canh tác lúa hiện đại. Những yêu cầu cốt lõi bao gồm: Giảm lượng giống gieo sạ (chỉ sử dụng từ 70 – 80 kg/ha, góp phần tiết kiệm chi phí và hạn chế sâu bệnh); quản lý nước hiệu quả, trong đó áp dụng kỹ thuật tưới ướt – khô xen kẽ (AWD) giúp giảm từ 30 – 40% lượng nước tưới; giảm phân bón hóa học (cắt giảm khoảng 30%, tăng cường sử dụng phân hữu cơ và vi sinh); hạn chế thuốc bảo vệ thực vật, trong đó giảm ít nhất 30% lượng sử dụng, ưu tiên chế phẩm sinh học; quản lý rơm rạ theo kinh tế tuần hoàn, đó là không đốt rơm, tận dụng làm phân bón hoặc nguyên liệu trồng nấm… Những giải pháp này không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt khi giảm chi phí sản xuất từ 8 – 24%, đồng thời tăng năng suất và thu nhập cho nông dân từ 12 –50%. Quan trọng hơn, lượng phát thải khí nhà kính có thể giảm từ 2 - 12 tấn CO₂ tương đương mỗi ha – một con số có ý nghĩa lớn trong bối cảnh toàn cầu đang nỗ lực cắt giảm phát thải.
Thời gian qua, quá trình xây dựng thương hiệu “Gạo Việt xanh phát thải thấp” có sự tham gia của nhiều tổ chức trong và ngoài nước. Trong đó VIETRISA đóng vai trò nòng cốt trong việc xây dựng quy chế, tiêu chuẩn và cấp quyền sử dụng nhãn hiệu. Đây là đơn vị trực tiếp kết nối doanh nghiệp, nông dân và thị trường. Bên cạnh đó, còn có sự hỗ trợ của Viện Tăng trưởng xanh toàn cầu (GGGI), Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI) giúp hoàn thiện hồ sơ pháp lý, chuyển giao công nghệ và hỗ trợ thử nghiệm các công cụ đánh giá phát thải, xây dựng bộ tiêu chí phù hợp với quy định sở hữu trí tuệ và tiêu chuẩn quốc tế. Sự phối hợp đa bên này tạo nên nền tảng vững chắc cho việc phát triển thương hiệu quốc gia cho gạo Việt.
Cũng theo PGS, TS. Bùi Bá Bổng, năm 2025 là năm đánh dấu bước ngoặt quan trọng khi lần đầu tiên một số doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh gạo của Việt Nam như Công ty Trung An, A An, Xuân Phương, Thái Bình Seed, VinaRice… được cấp quyền sử dụng nhãn hiệu “Gạo Việt xanh phát thải thấp” và xuất khẩu ra thị trường quốc tế với sản lượng trên 70.000 tấn. Đây là tín hiệu tích cực cho thấy, thị trường quốc tế đã bắt đầu chấp nhận và đánh giá cao giá trị của gạo xanh. Hiện nay, người tiêu dùng toàn cầu rất quan tâm đến các sản phẩm thân thiện môi trường, vì vậy gạo phát thải thấp có lợi thế cạnh tranh rõ rệt so với các sản phẩm truyền thống.
Bên cạnh phương thức canh tác và truy xuất nguồn gốc, tính minh bạch là một trong những yếu tố then chốt để xây dựng thương hiệu gạo xanh, giảm phát thải, bền vững. Để giải quyết vấn đề này, công cụ đánh giá tuân thủ quy trình sản xuất – ViRiCert – đã được phát triển. Công cụ này cho phép theo dõi toàn bộ quá trình sản xuất, đánh giá mức độ tuân thủ tiêu chuẩn, xác nhận lượng phát thải giảm được. Nhờ đó, người tiêu dùng và đối tác quốc tế có thể tin tưởng vào giá trị “xanh” của sản phẩm. Minh bạch không chỉ giúp nâng cao uy tín mà còn tạo điều kiện để gạo Việt tham gia sâu hơn vào các thị trường khó tính như châu Âu, Mỹ, Nhật Bản…
Dù đạt được những kết quả ban đầu, theo PGS, TS. Bùi Bá Bổng, việc xây dựng thương hiệu gạo xanh của Việt Nam hiện vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Quy mô, diện tích sản xuất còn nhỏ, lẻ; thị trường đầu ra chưa ổn định, giá trị ra tăng của hạt gạo mang thương hiệu gạo xanh chưa khẳng định rõ trên thị trường… Đặc biệt, nhận thức của nông dân chưa đồng đều do việc thay đổi tập quán canh tác, chi phí chuyển đổi ban đầu như đầu tư máy móc, công nghệ…có thể tạo áp lực về tài chính cho người dân, doanh nghiệp…
Để xây dựng thương hiệu gạo Việt xanh một cách bền vững, PGS, TS. Bùi Bá Bổng cho rằng, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp như: Hoàn thiện tiêu chuẩn quốc gia, trong đó sớm xây dựng bộ tiêu chuẩn tương thích với quốc tế, tiến tới công nhận toàn cầu; mở rộng vùng sản xuất; đẩy mạnh truyền thông, quảng bá hình ảnh gạo Việt xanh trên các kênh quốc tế; tăng cường liên kết chuỗi nông dân – hợp tác xã – doanh nghiệp – thị trường; ứng dụng công nghệ số trong truy xuất nguồn gốc, quản lý sản xuất thông minh… Đặc biệt, vai trò của Nhà nước trong việc hỗ trợ chính sách, tài chính và đào tạo là yếu tố then chốt.
Việc xây dựng thương hiệu “Gạo Việt xanh phát thải thấp” không chỉ là câu chuyện của ngành nông nghiệp mà còn gắn với chiến lược phát triển quốc gia trong kỷ nguyên kinh tế xanh. Nếu thành công, Việt Nam có thể trở thành quốc gia tiên phong trong sản xuất và xuất khẩu gạo phát thải thấp, một phân khúc giàu tiềm năng trên thị trường toàn cầu. Quan trọng hơn, đây là bước đi thể hiện trách nhiệm của Việt Nam đối với môi trường, góp phần thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải và phát triển bền vững. Từ những cánh đồng lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long, hành trình xây dựng thương hiệu “Gạo Việt xanh” đang từng bước được hiện thực hóa bằng khoa học công nghệ, sự liên kết và tầm nhìn chiến lược, PGS, TS. Bùi Bá Bổng nhấn mạnh.
Dù còn nhiều khó khăn, nhưng với sự vào cuộc của các tổ chức như VIETRISA, GGGI… cộng đồng doanh nghiệp và người nông dân, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để khẳng định vị thế mới, không chỉ là “cường quốc xuất khẩu gạo”, mà còn là quốc gia dẫn đầu về gạo xanh, bền vững. Thương hiệu gạo Việt xanh vì thế không chỉ mang giá trị kinh tế mà còn là biểu tượng của một nền nông nghiệp hiện đại, trách nhiệm và hội nhập.