Năm 2025 ghi dấu nhiều thay đổi lớn trong tổ chức bộ máy quản lý nhà nước, song ngành nông nghiệp, đặc biệt là lĩnh vực rau, hoa quả, vẫn đạt kết quả tích cực với kim ngạch xuất khẩu kỷ lục 8,6 tỷ USD. Xung quanh tác động của quá trình sáp nhập, vai trò của khoa học công nghệ và triển vọng phát triển ngành rau, hoa quả, phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với PGS, TS. Đặng Văn Đông, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Rau quả.
PV: Thưa ông, năm 2025 vừa qua có nhiều thay đổi lớn liên quan đến việc sáp nhập các bộ, ngành và địa phương. Trong bối cảnh đó, Viện Nghiên cứu Rau quả đã đạt được những thành tựu gì đáng chú ý?
PGS, TS. Đặng Văn Đông: Năm 2025 thực sự là một năm có rất nhiều biến động và thay đổi lớn, không chỉ riêng đối với ngành nông nghiệp mà đối với toàn bộ hệ thống chính trị – kinh tế – xã hội của đất nước. Việc sáp nhập các bộ, ngành và địa phương có thể coi là một cuộc cách mạng trong tổ chức bộ máy quản lý nhà nước, tác động trực tiếp đến mọi lĩnh vực, trong đó có hoạt động khoa học công nghệ và các viện nghiên cứu.
Đối với Viện Nghiên cứu Rau quả, chúng tôi chịu tác động khá rõ từ quá trình này. Trước hết là việc hợp nhất Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với Bộ Tài nguyên và Môi trường thành Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Từ góc độ của một đơn vị nghiên cứu khoa học, chúng tôi cho rằng đây là một cơ hội rất lớn. Nông nghiệp và môi trường vốn có mối quan hệ hữu cơ, gắn bó chặt chẽ với nhau. Khi hai lĩnh vực này được đặt trong cùng một cơ quan quản lý, sự phối hợp sẽ chặt chẽ và đồng bộ hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho các nghiên cứu liên ngành, đặc biệt là các nghiên cứu liên quan đến sản xuất nông nghiệp bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường sinh thái.
Bên cạnh đó, sự thay đổi trong cơ cấu của Bộ Khoa học và Công nghệ, nhất là việc gắn chặt hơn với chuyển đổi số, cũng mang lại những tác động rất tích cực. Chuyển đổi số đã và đang được ứng dụng mạnh mẽ trong quản lý khoa học. Nếu như trước đây, hầu hết các văn bản, báo cáo, hợp đồng khoa học đều phải ký tay, gửi bản giấy, mất rất nhiều thời gian, thì nay gần như toàn bộ đã được số hóa. Các báo cáo thuyết minh đề tài, dự án, hợp đồng khoa học, chứng từ… đều có thể thực hiện qua môi trường điện tử với chữ ký số, giúp quá trình triển khai nghiên cứu nhanh gọn, minh bạch và hiệu quả hơn rất nhiều.
Ở cấp địa phương, việc sáp nhập các tỉnh, các sở ngành trong giai đoạn đầu cũng gây ra không ít khó khăn. Từ hai tỉnh sáp nhập thành một tỉnh mới, từ hai sở thành một sở, cách tiếp cận, phương thức làm việc có nhiều thay đổi. Viện chúng tôi trước đây thuộc địa bàn một tỉnh cũ, nay chuyển sang tỉnh mới, phải làm quen với cơ chế quản lý mới. Tuy nhiên, đây là khó khăn chung, không chỉ riêng Viện Nghiên cứu Rau quả. Khi bộ máy dần đi vào ổn định, những thuận lợi bắt đầu bộc lộ rõ hơn, đặc biệt là việc tập trung và phát huy tốt hơn các nguồn lực về tài chính, con người và cơ sở vật chất.
Mặc dù gặp khó khăn trong giai đoạn đầu, nhưng đến cuối năm 2025, hoạt động nghiên cứu khoa học của Viện đã dần ổn định và đạt được nhiều kết quả tích cực. Chúng tôi đã nghiên cứu, chọn tạo và đưa ra thị trường nhiều sản phẩm mới về cây ăn quả, rau và hoa, có triển vọng rất tốt, được doanh nghiệp và người dân đón nhận. Đây là những kết quả quan trọng, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của ngành rau, hoa quả trong thời gian tới.
PV: Được biết năm vừa qua, kim ngạch xuất khẩu rau, quả của Việt Nam đạt 8,6 tỷ USD, con số cao nhất từ trước đến nay. Với góc độ là một viện nghiên cứu đầu ngành, ông đánh giá như thế nào về kết quả này, đặc biệt là vai trò của Viện Nghiên cứu Rau quả và triển vọng những năm tiếp theo?
PGS, TS. Đặng Văn Đông: Có thể nói rằng không chỉ riêng chúng tôi mà người dân cả nước đều rất phấn khởi trước kết quả xuất khẩu nông sản nói chung và rau quả nói riêng trong năm 2025. Kim ngạch xuất khẩu rau, quả đạt 8,6 tỷ USD là một con số kỷ lục, phản ánh rất rõ tiềm năng cũng như hướng đi đúng đắn của ngành rau, hoa quả Việt Nam trong thời gian qua.
Trước hết, con số này cho thấy định hướng phát triển của Nhà nước đối với ngành rau, hoa quả là hoàn toàn đúng hướng. Việc tập trung vào nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng thị trường xuất khẩu, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Sự tăng trưởng mạnh mẽ của xuất khẩu rau, quả cũng là minh chứng cho một tương lai rất tích cực của ngành trong những năm tiếp theo.
Ở góc độ khoa học, kết quả này cho thấy sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước, các viện nghiên cứu và người dân. Trong thành công chung đó, Viện Nghiên cứu Rau quả cũng có những đóng góp nhất định. Chúng tôi rất mừng khi thấy các kết quả nghiên cứu của Viện đã và đang được ứng dụng hiệu quả trong thực tiễn sản xuất và xuất khẩu.
Có thể lấy ví dụ tại Sơn La, một địa phương điển hình. Trước đây, sản xuất cây ăn quả ở Sơn La còn mang tính phân tán, manh mún, nhiều giống xoài, nhãn không đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu. Nhờ sự tác động của khoa học công nghệ, đặc biệt là các giống mới và kỹ thuật ghép cải tạo do Viện nghiên cứu và chuyển giao, nhiều vùng sản xuất tập trung đã được hình thành. Điển hình là vùng nhãn Sông Mã, nơi các giống nhãn mới và biện pháp kỹ thuật tiên tiến đã giúp tạo ra sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân.
Tương tự, đối với cây xoài, trước đây việc xuất khẩu gặp rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên, khi đưa các giống xoài mới cùng với các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến vào sản xuất, Sơn La đã từng bước xuất khẩu xoài thành công. Ở Hải Dương và một số tỉnh phía Bắc, các mô hình sản xuất rau quả ứng dụng khoa học công nghệ cũng mang lại hiệu quả rõ rệt.
Tại khu vực phía Nam, các đơn vị nghiên cứu chuyên ngành khác cũng đóng góp rất lớn cho sự phát triển và xuất khẩu rau, quả. Đặc biệt, tại Lâm Đồng, trung tâm sản xuất rau, hoa lớn của cả nước, mỗi năm xuất khẩu đạt hàng trăm triệu USD, dù theo chúng tôi, con số này vẫn chưa được thống kê đầy đủ. Nếu tính đủ, kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam có thể còn cao hơn con số 8,6 tỷ USD.
Từ thực tiễn đó, tôi tin rằng mục tiêu đạt kim ngạch xuất khẩu rau, quả 10 tỷ USD, thậm chí cao hơn vào năm 2030 là hoàn toàn khả thi. Đây là một triển vọng rất đáng khích lệ đối với ngành nông nghiệp Việt Nam.
PV: Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về khoa học công nghệ được ban hành cuối năm 2024 được xem là một cú hích lớn cho hoạt động nghiên cứu. Ông đánh giá như thế nào về tinh thần đổi mới sáng tạo và tác động của nghị quyết này đối với phát triển nông nghiệp nói chung và ngành rau, hoa quả nói riêng?
PGS, TS. Đặng Văn Đông: Ngay từ khi Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị được ban hành vào tháng 12/2024, giới khoa học chúng tôi đã đón nhận với tinh thần rất hào hứng. Đây là một nghị quyết có nhiều điểm đổi mới rất mạnh mẽ và thực chất. Trong thời gian vừa qua, chúng tôi cũng thấy rõ Nghị quyết 57-NQ/TW đang từng bước đi vào cuộc sống.
Trước đây, ở nhiều cấp, đặc biệt là cấp cơ sở, khoa học công nghệ chưa thực sự được quan tâm đúng mức. Nhưng hiện nay, hầu hết các nghị quyết của Đảng, của địa phương, từ cấp xã đến cấp tỉnh, đều đưa khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành một trong những nội dung quan trọng trong định hướng phát triển. Ở cấp Trung ương, tinh thần chỉ đạo cũng ngày càng quyết liệt hơn. Đi đến đâu, chúng tôi cũng thấy Nghị quyết 57-NQ/TW được quán triệt và triển khai rất rõ ràng.
Điều mà các nhà khoa học quan tâm nhất trong Nghị quyết 57-NQ/TW chính là đổi mới thể chế và cách thức quản lý khoa học. Nếu như trước đây, hoạt động nghiên cứu bị ràng buộc bởi rất nhiều quy định cứng nhắc, thì nay đã được “cởi trói” đáng kể, ngay từ khâu thuyết minh đề tài. Cơ chế khoán được áp dụng giúp các nhà khoa học yên tâm hơn trong quá trình nghiên cứu. Nhiều quy định trước đây gây khó khăn, như việc chấm công cứng nhắc hay không được linh hoạt điều chỉnh vật tư, kinh phí, nay đã được tháo gỡ.
Đặc biệt, điểm đột phá lớn nhất là cơ chế đối với sản phẩm sau nghiên cứu khoa học. Trước đây, theo các quy định cũ, việc chuyển giao hay bán sản phẩm khoa học phải xin phép rất nhiều cấp, mất nhiều thời gian. Nay các tổ chức chủ trì và nhà khoa học được chủ động hơn trong việc chuyển giao, liên doanh, liên kết, thậm chí góp vốn bằng sản phẩm khoa học để hợp tác với doanh nghiệp. Nhà nước rất khuyến khích cách làm này, bởi qua đó giúp các kết quả nghiên cứu nhanh chóng đi vào thực tiễn sản xuất.
Tôi tin rằng, khi Nghị quyết 57-NQ/TW tiếp tục được triển khai sâu rộng và đồng bộ hơn nữa, khoa học công nghệ sẽ có bước đột phá mạnh mẽ, đóng vai trò then chốt trong phát triển nông nghiệp. Với tinh thần đổi mới như hiện nay, khoa học công nghệ sẽ góp phần nâng cao giá trị nông sản, thúc đẩy xuất khẩu và tạo điều kiện để đất nước phát triển bền vững hơn trong thời gian tới.
PV: Xin cảm ơn ông về những chia sẻ tâm huyết, thẳng thắn và giàu giá trị khoa học đối với sự phát triển của ngành nông nghiệp nói chung và lĩnh vực rau, hoa quả nói riêng.