PGS, TS. Nguyễn Quang Học: Thực hiện chuyển đổi số nhằm xây dựng nền quản trị đất đai minh bạch, hiệu quả và bền vững

PGS, TS. Nguyễn Quang Học: Thực hiện chuyển đổi số nhằm xây dựng nền quản trị đất đai minh bạch, hiệu quả và bền vững

Chủ nhật, 17/5/2026, 05:54 (GMT+7)
logo Thế giới đang bước vào thời kỳ cách mạng công nghiệp lần thứ tư việc ứng dụng các công nghệ hiện đại như dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI), hệ thống thông tin địa lý (GIS), viễn thám, nền tảng số và IoT... vào công tác chuyển đổi số trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, đặc biệt là quy hoạch sử dụng đất đai trở nên ngày càng cần thiết và cấp bách. Phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với PGS, TS. Nguyễn Quang Học – Khoa Tài nguyên và Môi trường, Học viện Nông nghiệp Việt Nam về vấn đề này.

PV: Thưa ông, với góc độ chuyên gia, ông đánh giá như thế nào về vai trò của chuyển đổi số trong việc nâng cao hiệu quả quản lý đất đai tại Việt Nam hiện nay?

 PGS, TS. Nguyễn Quang Học: Chuyển đổi số có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hiện đại hóa quản lý đất đai ở Việt Nam hiện nay. Về bản chất, quản lý đất đai là quản lý một loại tài nguyên hữu hạn, có giá trị kinh tế, xã hội, môi trường và pháp lý rất cao. Vì vậy, nếu vẫn dựa chủ yếu vào hồ sơ giấy, quy trình thủ công và dữ liệu phân tán thì rất khó bảo đảm tính minh bạch, kịp thời và chính xác trong quản lý.

Chuyển đổi số giúp chuyển hoạt động quản lý đất đai từ mô hình quản lý theo hồ sơ sang mô hình quản lý dựa trên dữ liệu. Khi dữ liệu đất đai được số hóa, chuẩn hóa và liên thông, các cơ quan quản lý có thể theo dõi hiện trạng sử dụng đất, biến động đất đai, quy hoạch, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận một cách hiệu quả hơn. Điều này góp phần giảm thời gian xử lý thủ tục hành chính, hạn chế sai sót, tăng tính công khai, minh bạch và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.

gen-h-a-hoc-2_1778669012.jpg
 Theo PGS, TS. Nguyễn Quang Học, chuyển đổi số trong quản lý đất đai góp phần giảm thời gian xử lý thủ tục hành chính, hạn chế sai sót, tăng tính công khai, minh bạch và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp

Đặc biệt, trong bối cảnh Luật Đất đai 2024 đã đặt ra yêu cầu cao hơn về quản lý, khai thác và sử dụng thông tin đất đai, chuyển đổi số không chỉ là công cụ kỹ thuật mà còn là điều kiện nền tảng để đổi mới phương thức quản trị đất đai theo hướng hiện đại, minh bạch và bền vững. Luật Đất đai 2024 quy định về quyền hạn, trách nhiệm của Nhà nước trong thống nhất quản lý đất đai và quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc xây dựng hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu đất đai đồng bộ.

Nói cách khác, chuyển đổi số giúp quản lý đất đai không chỉ nhanh hơn mà quan trọng hơn là đúng hơn, minh bạch hơn và có khả năng dự báo tốt hơn. Góp phần hỗ trợ công tác quản lý đất đai được chuẩn hóa cũng như công tác đào tạo chuyên ngành được tốt hơn, năm 2025 tôi có xuất bản cuốn sách về “Ứng dụng chuyển đổi số trong quy hoạch sử dụng đất” do Nhà xuất bản Học viện Nông nghiệp phát hành. Đây là tài liệu phổ biến kiến thức chuyên sâu về thực hiện chuyển đổi số trong lĩnh vực quản lý đất đai.

PV: Theo ông, đâu là những khó khăn, thách thức trong quá trình ứng dụng công nghệ số vào quản lý và quy hoạch sử dụng đất hiện nay?

PGS, TS. Nguyễn Quang Học: Tôi cho rằng, quá trình ứng dụng công nghệ số trong quản lý và quy hoạch sử dụng đất hiện nay chúng ta còn gặp một số nhóm khó khăn cơ bản như:

- Thứ nhất đó là thách thức về chất lượng và tính đồng bộ của dữ liệu. Hiện nay, dữ liệu đất đai ở nhiều địa phương vẫn còn phân tán, chưa được chuẩn hóa đầy đủ, có sự khác biệt giữa dữ liệu bản đồ, hồ sơ địa chính, dữ liệu quy hoạch, dữ liệu pháp lý và dữ liệu thực địa. Trong khi đó, chuyển đổi số chỉ thực sự hiệu quả khi dữ liệu bảo đảm các tiêu chí: đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất và có khả năng dùng chung. Đây cũng là định hướng được nhấn mạnh trong các chương trình làm giàu, làm sạch dữ liệu đất đai thời gian gần đây.

- Thứ hai là về hạ tầng công nghệ và năng lực liên thông hệ thống. Quản lý đất đai liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành như tài nguyên và môi trường, xây dựng, tài chính, thuế, tư pháp, nông nghiệp, quy hoạch đô thị... Nếu các hệ thống dữ liệu không liên thông thì việc số hóa mới chỉ dừng ở mức đưa hồ sơ giấy lên môi trường điện tử, chưa tạo ra một hệ sinh thái quản trị dữ liệu thực sự.

gen-h-a-hoc-1_1778669031.jpg
PGS, TS. Nguyễn Quang Học giới thiệu cuốn sách ông rất tâm đắc mà ông đã ấp ủ từ lâu về chuyển đổi số trong quản lý đất đai

- Thứ ba là về nguồn nhân lực. Công nghệ như GIS, viễn thám, trí tuệ nhân tạo hay dữ liệu lớn đòi hỏi đội ngũ cán bộ không chỉ hiểu nghiệp vụ quản lý đất đai mà còn có năng lực phân tích dữ liệu không gian, đọc hiểu mô hình, đánh giá sai số và vận hành hệ thống số. Đây là yêu cầu mới so với phương thức quản lý truyền thống.

- Thứ tư đó là về thể chế, quy trình và bảo mật dữ liệu. Dữ liệu đất đai là dữ liệu nhạy cảm, liên quan đến quyền tài sản, lợi ích kinh tế và an sinh xã hội. Vì vậy, việc chia sẻ, khai thác và cập nhật dữ liệu cần có cơ chế rõ ràng về phân quyền truy cập, bảo vệ dữ liệu cá nhân, an toàn thông tin và trách nhiệm pháp lý của các bên liên quan.

Do đó, có thể nói khó khăn lớn nhất hiện nay không chỉ nằm ở câu chuyện thiếu công nghệ, mà nằm ở việc tổ chức lại dữ liệu, quy trình và năng lực quản trị để công nghệ thực sự phát huy hiệu quả.

PV: Việc ứng dụng các công nghệ như GIS, dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI) và viễn thám đã mang lại những thay đổi như thế nào trong công tác quản lý đất đai, thưa ông?

PGS, TS. Nguyễn Quang Học: Hiện nay, các công nghệ như GIS, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và viễn thám đã tạo ra những thay đổi rất căn bản trong quản lý đất đai.

Trước hết, GIS giúp tích hợp, lưu trữ, phân tích và hiển thị dữ liệu đất đai theo không gian. Nhờ GIS, các lớp thông tin như hiện trạng sử dụng đất, quy hoạch sử dụng đất, địa giới hành chính, hạ tầng giao thông, thủy văn, dân cư, giá đất và biến động đất đai có thể được chồng xếp và phân tích đồng thời. Điều này giúp nhà quản lý nhìn nhận đất đai không chỉ như một hồ sơ pháp lý riêng lẻ, mà như một hệ thống không gian có quan hệ với kinh tế, xã hội và môi trường.

Lĩnh vực viễn thám cho phép giám sát hiện trạng và biến động sử dụng đất trên phạm vi rộng, theo chuỗi thời gian. Thông qua ảnh vệ tinh, ảnh UAV và các chỉ số phổ, cơ quan chuyên môn có thể phát hiện thay đổi lớp phủ bề mặt, mở rộng đô thị, suy giảm rừng, chuyển đổi đất nông nghiệp, biến động mặt nước hoặc nguy cơ thoái hóa đất. Đây là cơ sở quan trọng để kiểm tra thực địa có trọng tâm, giảm chi phí giám sát và nâng cao năng lực cảnh báo sớm.

gen-h-a-hoc-3_1778669025.jpg
PGS, TS. Nguyễn Quang Học trao đổi với phóng viên 

Hiện nay, việc ứng dụng dữ liệu lớn giúp liên kết nhiều lĩnh vực như đất đai, dân số, kinh tế, hạ tầng, môi trường, giao thông, thị trường bất động sản và dữ liệu hành chính... Khi các nguồn dữ liệu này được tích hợp, công tác quy hoạch sử dụng đất có thể chuyển từ cách tiếp cận tĩnh sang cách tiếp cận động, phản ánh tốt hơn nhu cầu phát triển và áp lực sử dụng đất trong thực tiễn.

Ngoài ra, trí tuệ nhân tạo đã và đang được áp dụng rộng rãi trong nghiên cứu, quản lý doanh nghiệp. Việc áp dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý đất đai có thể hỗ trợ phân loại ảnh viễn thám, phát hiện biến động sử dụng đất, dự báo xu hướng đô thị hóa, nhận diện khu vực có nguy cơ vi phạm quy hoạch hoặc hỗ trợ ra quyết định trong phân bổ không gian sử dụng đất. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng AI không thay thế vai trò của chuyên gia và cơ quan quản lý. AI là công cụ hỗ trợ phân tích, còn quyết định cuối cùng vẫn phải dựa trên cơ sở pháp lý, điều kiện thực tiễn và mục tiêu phát triển bền vững.

Nhìn chung, các công nghệ này giúp quản lý đất đai chuyển từ phương thức phản ứng sau khi sự việc xảy ra sang phương thức quản lý chủ động, giám sát liên tục và dự báo xu hướng.

PV: Vậy, để đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực quản lý đất đai trong thời gian tới chúng ta cần có những giải pháp gì, thưa ông?

PGS, TS. Nguyễn Quang Học: Để đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực quản lý đất đai, theo tôi, chúng ta cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp:

Đó là, cần ưu tiên hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia theo hướng thống nhất, đồng bộ và cập nhật thường xuyên. Đây là nền tảng cốt lõi của toàn bộ quá trình chuyển đổi số. Mục tiêu trong năm 2026 là cơ bản hoàn thành đo đạc, lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai trên phạm vi toàn quốc.

Đặc biệt, cần chuẩn hóa dữ liệu và quy trình nghiệp vụ. Nếu mỗi địa phương sử dụng một cách phân loại, một hệ tọa độ, một chuẩn dữ liệu hoặc một quy trình cập nhật khác nhau thì rất khó hình thành hệ thống dữ liệu dùng chung. Vì vậy, chuẩn hóa phải được thực hiện từ khâu thu thập, kiểm tra, lưu trữ, cập nhật đến chia sẻ dữ liệu.

Bên cạnh đó, cần tăng cường liên thông giữa cơ sở dữ liệu đất đai với các cơ sở dữ liệu khác như dân cư, doanh nghiệp, thuế, xây dựng, quy hoạch, môi trường và nông nghiệp. Quản lý đất đai không thể tách rời quản lý phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, liên thông dữ liệu sẽ giúp nâng cao chất lượng hoạch định chính sách, định giá đất, kiểm soát quy hoạch và cung cấp dịch vụ công.

Một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành công đó là cần phát triển nguồn nhân lực số trong ngành quản lý đất đai. Cán bộ chuyên môn cần được đào tạo không chỉ về pháp luật đất đai mà còn về công nghệ trong GIS, viễn thám, phân tích dữ liệu, quản trị cơ sở dữ liệu và an toàn thông tin. Đây là điều kiện quyết định để công nghệ được sử dụng đúng, hiệu quả và có trách nhiệm.

Ngoài ra, cần có cơ chế bảo đảm an toàn, bảo mật và đạo đức dữ liệu. Dữ liệu đất đai có giá trị rất lớn, nếu khai thác không đúng có thể dẫn đến rủi ro về quyền riêng tư, đầu cơ, trục lợi chính sách hoặc tranh chấp lợi ích. Vì vậy, chuyển đổi số phải đi kèm với cơ chế phân quyền, kiểm soát truy cập, lưu vết giao dịch dữ liệu và trách nhiệm giải trình.

Cần tiếp cận chuyển đổi số trong quản lý đất đai như một quá trình đổi mới quản trị, chứ không chỉ là đầu tư phần mềm hay thiết bị. Công nghệ chỉ là phương tiện, mục tiêu cuối cùng của chuyển đổi số là nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất, sử dụng tiết kiệm tài nguyên đất đai nhằm xây dựng một nền quản trị đất đai hiện đại, minh bạch, hiệu quả và bền vững. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu đó, cần coi dữ liệu đất đai là tài sản chiến lược của quốc gia, đồng thời đầu tư đồng bộ vào thể chế, hạ tầng, con người và cơ chế phối hợp liên ngành.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

Lê Hải - Sỹ Tùng