Pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo: Chuyển mạnh sang quản lý theo kết quả, hiệu quả

Thứ ba, 13/1/2026, 07:54 (GMT+7)
logo Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 cùng các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành đang tạo ra những thay đổi căn bản trong tư duy quản lý và tổ chức thực hiện hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở các quy định pháp luật mới và tài liệu do Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đưa ra tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ khoa học và công nghệ năm 2026 (ngày 12/01/2026), bài viết làm rõ những điểm mới nổi bật, qua đó giúp bạn đọc nhận diện đầy đủ định hướng và cách thức triển khai trong thời gian tới.
co-gioi-hoa-dong-bo-trong-san-xuat-mia-tai-tinh-tay-ninh_1768188521.webp
ảnh minh hoạ

Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025: Đổi mới tư duy quản lý, lấy doanh nghiệp và hiệu quả đầu ra làm trung tâm

Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ. Lần đầu tiên, đổi mới sáng tạo được đưa vào Luật và được đặt ngang hàng với khoa học và công nghệ, khẳng định vai trò của đổi mới sáng tạo như một trụ cột phát triển bên cạnh nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.

Theo Luật, khoa học và công nghệ được xác định là yếu tố then chốt, động lực quan trọng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Trên nền tảng đó, đổi mới sáng tạo được coi là công cụ quan trọng để chuyển hóa tri thức khoa học và công nghệ thành sản phẩm, dịch vụ, quy trình và mô hình phát triển mới.

Một điểm đổi mới nổi bật của Luật là định vị doanh nghiệp là trung tâm của hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Doanh nghiệp không chỉ là đối tượng tiếp nhận, ứng dụng kết quả nghiên cứu mà còn được xác định là chủ thể tham gia trực tiếp vào quá trình đề xuất, triển khai và thương mại hóa các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Cách tiếp cận này góp phần gắn kết chặt chẽ hơn giữa nghiên cứu và thị trường, giữa hoạt động khoa học với nhu cầu thực tiễn của nền kinh tế.

Luật cũng thể hiện rõ sự thay đổi mô hình quản lý từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”. Thay vì kiểm soát chặt chẽ quy trình và đầu vào, pháp luật mới chuyển trọng tâm sang quản lý dựa trên kết quả, hiệu quả đầu ra và tác động của hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Cách tiếp cận này góp phần giảm bớt thủ tục hành chính, tăng tính minh bạch, đồng thời khuyến khích sự chủ động, sáng tạo của các tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ.

Gắn với đó là yêu cầu đánh giá hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo dựa trên kết quả và hiệu quả, phù hợp với Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Việc đánh giá không chỉ dừng lại ở sản phẩm khoa học mà còn chú trọng đến tác động kinh tế - xã hội, khả năng ứng dụng và thương mại hóa.

Luật xác định rõ định hướng chuyển từ quốc gia chủ yếu sử dụng công nghệ sang làm chủ các công nghệ chiến lược, phù hợp với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt. Cùng với đó, lấy thị trường và định hướng sản phẩm làm động lực cho nghiên cứu được coi là nguyên tắc xuyên suốt, nhằm bảo đảm các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, tạo ra giá trị thiết thực cho nền kinh tế.

Theo mục tiêu được xác định trong Luật và các văn bản hướng dẫn, đến năm 2030, tỷ lệ kết quả nghiên cứu và phát triển công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước được thương mại hóa hoặc ứng dụng thực tế đạt tối thiểu 40%. Đây là chỉ tiêu quan trọng, thể hiện yêu cầu nâng cao hiệu quả đầu tư cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển giao, ứng dụng và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

nong-nghiep-thong-minh-18-171707511220250508112756_1768188362.webp
ảnh minh hoạ

Hoàn thiện cơ chế thực thi Luật: Tự chủ tổ chức, tài chính linh hoạt và chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu

Để bảo đảm Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 được triển khai đồng bộ và hiệu quả, Chính phủ đã ban hành hệ thống nghị định hướng dẫn thi hành, trong đó trọng tâm là Nghị định số 262/2025/NĐ-CP, Nghị định số 263/2025/NĐ-CP và Nghị định số 265/2025/NĐ-CP. Các nghị định này đã cụ thể hóa nhiều cơ chế mới, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Một nội dung xuyên suốt của các nghị định là tăng cường quyền tự chủ cho viện, trường và các tổ chức khoa học và công nghệ công lập. Theo đó, các tổ chức được chủ động tổ chức bộ máy, sử dụng nhân sự, quản lý tài chính và triển khai các hoạt động hợp tác quốc tế, liên doanh, liên kết nhằm thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Việc trao quyền tự chủ đi đôi với yêu cầu tự chịu trách nhiệm, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các tổ chức khoa học và công nghệ.

Trong lĩnh vực nhân sự, pháp luật mới cho phép các tổ chức khoa học và công nghệ công lập sử dụng ngân sách sự nghiệp khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để ký hợp đồng lao động chuyên môn, thuê chuyên gia, nhà khoa học và người có tài năng đặc biệt theo mức chi trả phù hợp với thị trường và khả năng tài chính của đơn vị. Cơ chế này góp phần tháo gỡ khó khăn trong thu hút và giữ chân nguồn nhân lực chất lượng cao cho hoạt động nghiên cứu.

Đặc biệt, cơ chế tiền lương và thu nhập được đổi mới theo hướng gắn với số lượng, chất lượng và cam kết kết quả đầu ra, thay cho cách tính cứng nhắc theo ngạch, bậc như trước đây. Đây là bước tiến quan trọng nhằm khuyến khích hiệu quả, nâng cao động lực làm việc của đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ.

Về tài chính, các nghị định hướng dẫn đã thiết lập cơ chế tài chính linh hoạt, trong đó nổi bật là khoán chi đến sản phẩm cuối cùng. Theo cơ chế này, tổ chức chủ trì nhiệm vụ được chủ động sử dụng kinh phí trong phạm vi được giao, miễn là bảo đảm đạt được sản phẩm và kết quả đã cam kết. Đồng thời, pháp luật mở rộng các nội dung chi được phép, đơn giản hóa thủ tục thanh quyết toán, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình triển khai nhiệm vụ.

Một điểm mới có ý nghĩa đặc biệt là cơ chế chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu. Pháp luật quy định rõ các trường hợp được xem xét miễn, loại trừ trách nhiệm hành chính, miễn trách nhiệm dân sự và không phải hoàn trả kinh phí đã sử dụng đối với các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã thực hiện đúng quy định nhưng không đạt kết quả như dự kiến. Quy định này góp phần tháo gỡ tâm lý e ngại rủi ro, khuyến khích các tổ chức, cá nhân mạnh dạn triển khai các ý tưởng mới, giải pháp mới.

Cùng với đó, cơ cấu chi ngân sách nhà nước cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định rõ theo hướng cân đối và hợp lý. Theo quy định, 60-70% ngân sách dành cho nhiệm vụ khoa học và công nghệ, 30-40% dành cho nhiệm vụ đổi mới sáng tạo, phản ánh sự ưu tiên ngày càng lớn cho các hoạt động đổi mới sáng tạo gắn với thị trường và ứng dụng thực tiễn.

Ngoài ra, công tác quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được đẩy mạnh trên nền tảng số, với yêu cầu bắt buộc sử dụng Hệ thống thông tin quốc gia và Nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Việc số hóa quy trình quản lý giúp nâng cao hiệu quả điều hành, bảo đảm công khai, minh bạch và tạo cơ sở dữ liệu thống nhất phục vụ công tác đánh giá, hoạch định chính sách.

photo420250317110157_1768188447.webp
ảnh minh hoạ

Định hướng triển khai nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2026-2030 của ngành Nông nghiệp và Môi trường

Trên cơ sở Luật và các nghị định hướng dẫn, Nghị định số 267/2025/NĐ-CP và Nghị định số 268/2025/NĐ-CP đã quy định cụ thể về phân loại nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, cũng như quy trình xét tài trợ, đặt hàng thực hiện nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước.

Theo đó, nhiệm vụ được phân thành nhiệm vụ khoa học và công nghệ và nhiệm vụ đổi mới sáng tạo, với tiêu chí, điều kiện và quy trình thực hiện rõ ràng. Quy trình xét tài trợ, đặt hàng được thiết kế chặt chẽ, minh bạch, trong đó thời gian phê duyệt nhiệm vụ khoa học và công nghệ tối đa 110 ngày, còn nhiệm vụ đổi mới sáng tạo tối đa 68 ngày kể từ khi kết thúc nhận hồ sơ, góp phần rút ngắn thời gian chuẩn bị và triển khai nhiệm vụ.

Đối với ngành nông nghiệp và môi trường, trọng tâm trong giai đoạn tới là xây dựng Kế hoạch khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 5 năm giai đoạn 2026-2030. Kế hoạch này là căn cứ pháp lý quan trọng để lập dự toán chi ngân sách nhà nước hằng năm, đồng thời định hướng việc triển khai các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo từ năm 2027 trở đi.

Nội dung Kế hoạch tập trung xác định mục tiêu tổng quát, lĩnh vực ưu tiên phát triển, cơ cấu chi ngân sách, danh mục nhiệm vụ và giải pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn của ngành nông nghiệp và môi trường. Các mục tiêu cụ thể bao gồm nâng cao tỷ lệ thương mại hóa kết quả nghiên cứu, gia tăng số lượng đơn đăng ký sáng chế và bảo hộ giống cây trồng, đồng thời thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào giải quyết các vấn đề thực tiễn của ngành.

Bên cạnh đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định các nhiệm vụ trọng tâm phục vụ xây dựng Kế hoạch năm 2027, trong đó có việc ban hành quy định quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ do Bộ tài trợ, đặt hàng, cũng như thành lập Quỹ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Bộ. Việc thành lập Quỹ được kỳ vọng sẽ tạo công cụ tài chính ổn định, linh hoạt, hỗ trợ hiệu quả cho việc tài trợ, đặt hàng và triển khai các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong thời gian tới.

Những điểm mới của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã tạo lập khuôn khổ pháp lý đồng bộ, hiện đại, phù hợp với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Việc đổi mới tư duy quản lý, tăng cường tự chủ, thiết lập cơ chế tài chính linh hoạt và chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu đã mở ra không gian phát triển rộng hơn cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Đối với ngành Nông nghiệp và Môi trường, việc triển khai hiệu quả Luật và các văn bản hướng dẫn, gắn với xây dựng và thực hiện Kế hoạch khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2026-2030, sẽ là nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững ngành và đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của đất nước.

Hồng Minh