backgr-demo_1775438418.jpg

sapo_1775438696.jpg

trang_1775438771.jpg

a1_1775438740.jpg

Thứ trưởng Phùng Đức Tiến phát biểu tại Hội nghị.

trang_1775438771.jpg

Tham dự hội nghị có ông Ngô Hạnh Phúc, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai; ông Đinh Công Sứ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ; đại diện Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam; cùng lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh như Lào Cai, Tuyên Quang, Phú Thọ, Sơn La, Hà Tĩnh, Tây Ninh, Đắk Lắk…

trang_1775438771.jpg

z7688932444127_72fcee4e5daea2fa82b1b77d54bb1c43_1775440674.jpg

Các đại biểu cùng lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh như Lào Cai, Tuyên Quang, Phú Thọ, Sơn La, Hà Tĩnh, Tây Ninh, Đắk Lắk… tham dự Hội nghị

trang_1775438771.jpg

Phát biểu tại hội nghị, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến nhấn mạnh, trong những năm qua, nuôi trồng thủy sản tại các tỉnh phía Bắc đã duy trì đà tăng trưởng ổn định, từng bước khẳng định vai trò quan trọng trong bảo đảm an ninh thực phẩm, cung cấp nguồn dinh dưỡng thiết yếu và tạo sinh kế cho hàng triệu người dân, đặc biệt tại khu vực trung du, miền núi và ven biển.

Theo báo cáo của Cục Thủy sản và Kiểm ngư, năm 2025, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản các tỉnh phía Bắc đạt khoảng 309.000 ha, chiếm 23% diện tích nuôi trồng thủy sản cả nước; sản lượng đạt khoảng 1,3 triệu tấn, tương đương 21% tổng sản lượng toàn quốc. Đây là những con số cho thấy tiềm năng và dư địa phát triển lớn của khu vực.

Trong cơ cấu nuôi trồng, diện tích nuôi nước ngọt chiếm ưu thế với gần 205.000 ha (66%), sản lượng đạt khoảng 910.000 tấn (69%). Một số địa phương có sản lượng nuôi nước ngọt lớn, đóng vai trò đầu tàu như Sơn La với gần 99.700 tấn, Phú Thọ đạt 83.800 tấn, Bắc Ninh khoảng 80.000 tấn, Hà Nội đạt 77.000 tấn…

trang_1775438771.jpg

bieu-do_1775441615.png

trang_1775438771.jpg

Các đối tượng nuôi chủ lực hiện nay khá đa dạng, bao gồm các loài cá nước ngọt truyền thống, cá rô phi, các loại cá đặc sản, cá nước lạnh và nhuyễn thể. Nhiều mô hình nuôi trồng đã bước đầu áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến cũng thẳng thắn chỉ ra nhiều tồn tại, hạn chế đang cản trở sự phát triển bền vững của ngành. Sản xuất nuôi trồng thủy sản khu vực phía Bắc vẫn chủ yếu mang tính nhỏ lẻ, phân tán, thiếu liên kết, dẫn đến hiệu quả kinh tế chưa cao.

Hạ tầng vùng nuôi và hệ thống dịch vụ hậu cần còn thiếu và yếu, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển quy mô lớn. Liên kết chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ chưa chặt chẽ, khiến sản phẩm chủ yếu được tiêu thụ dưới dạng tươi sống, giá trị gia tăng thấp.

Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này còn tồn tại nhiều bất cập. Việc xây dựng và cập nhật cơ sở dữ liệu ngành chưa đầy đủ; tỷ lệ cấp mã số cơ sở nuôi còn thấp; hệ thống quan trắc và cảnh báo môi trường chưa đồng bộ, tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm và phát sinh dịch bệnh.

trang_1775438771.jpg

cum-6_1775440573.jpg

Trong những năm qua, nuôi trồng thủy sản tại các tỉnh phía Bắc đã duy trì đà tăng trưởng ổn định, từng bước khẳng định vai trò quan trọng trong bảo đảm an ninh thực phẩm.

trang_1775438771.jpg

Một vấn đề đáng chú ý khác là năng lực sản xuất giống thủy sản mới chỉ đáp ứng khoảng 70–80% nhu cầu, phần còn lại vẫn phụ thuộc vào nguồn giống từ ngoài vùng hoặc nhập khẩu, tiềm ẩn rủi ro về chất lượng và dịch bệnh.

Dù tỷ trọng xuất khẩu chưa lớn, ngành vẫn giữ vai trò quan trọng trong đảm bảo an ninh thực phẩm, phục vụ tiêu dùng nội địa và tạo sinh kế cho người dân. Các đối tượng nuôi chủ yếu gồm tôm nước lợ, cá nước ngọt như rô phi và cá truyền thống, cùng một số loài đặc sản, cá nước lạnh (cá tầm, cá hồi) và các đối tượng nuôi biển như cá song, cá vược, cá chim vây vàng, hàu, tu hài, ngao…

trang_1775438771.jpg

cum-2_1775438919.jpg

file-1_1775439167.jpg

Phó Chủ tịch tỉnh Lào Cai phát biểu tại Hội nghị (ảnh trên). Hiện năng lực sản xuất giống thủy sản mới chỉ đáp ứng khoảng 70–80% nhu cầu (ảnh minh họa bên dưới).

trang_1775438771.jpg

Theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư, nuôi trồng thủy sản khu vực phía Bắc đang trong quá trình chuyển đổi từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa. Tuy nhiên, quá trình này gặp nhiều khó khăn. Trước hết là tình trạng sản xuất phân tán, quy mô nhỏ, chủ yếu do các hộ cá thể thực hiện, thiếu liên kết chuỗi giá trị. Điều này khiến năng suất và giá trị sản phẩm chưa tương xứng với tiềm năng. Nuôi biển bước đầu hình thành nhưng quy mô còn khiêm tốn, công nghệ chưa đồng bộ. Sản phẩm nổi bật là các loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ như ngao, hàu tại một số địa phương ven biển.

Bên cạnh đó, hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ còn thiếu và yếu, từ giao thông, hệ thống cấp thoát nước đến dịch vụ giống, thức ăn và tiêu thụ sản phẩm. Chuỗi cung ứng chưa đồng bộ làm tăng chi phí và giảm hiệu quả sản xuất. Công tác quản lý cũng còn nhiều bất cập, đặc biệt là thiếu cơ sở dữ liệu về phân vùng nuôi và đánh giá sức tải môi trường. Sự chồng chéo trong quản lý giữa các ngành gây khó khăn cho tổ chức sản xuất và thu hút đầu tư.

tit-1_1775439208.jpg

Trước thực trạng đó, hội nghị đã tập trung thảo luận, đề xuất nhiều giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là tại các tỉnh miền núi phía Bắc – nơi có lợi thế lớn về diện tích mặt nước hồ chứa.

z7688931551115_c80bc0a27779adfb19debac703287868_1775441039.jpg

Thứ trưởng Phùng Đức Tiến lắng nghe ý kiến của các đại biểu tại Hội nghị.

trang_1775438771.jpg

Theo Thứ trưởng Phùng Đức Tiến, để phát huy tối đa tiềm năng, việc phát triển nuôi trồng thủy sản hồ chứa cần chuyển mạnh từ hình thức tự phát sang phát triển có quy hoạch, có kiểm soát. Trong đó, trọng tâm là tổ chức lại sản xuất theo hướng liên kết chuỗi giá trị, gắn kết chặt chẽ giữa người nuôi, doanh nghiệp và thị trường tiêu thụ.

Đồng thời, cần tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, từ khâu chọn giống, nuôi trồng đến chế biến và bảo quản sau thu hoạch. Việc kiểm soát môi trường nuôi cũng phải được chú trọng, nhằm giảm thiểu rủi ro, bảo đảm phát triển bền vững.

trang_1775438771.jpg

cum-5_1775439453.jpg

trang_1775438771.jpg

Cùng với đó, công tác quản lý cần được đổi mới theo hướng liên ngành, đồng bộ từ trung ương đến địa phương, kết hợp với việc hoàn thiện hệ thống dữ liệu ngành, nâng cao hiệu quả giám sát và điều hành.

Tại hội nghị, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã chính thức triển khai Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản hồ chứa giai đoạn 2026–2030. Đề án đặt ra nhiều mục tiêu cụ thể, mang tính định hướng dài hạn cho ngành.

trang_1775438771.jpg

cum-3_1775439269.jpg

TS. Bùi Thế Anh, Vụ Khoa học và Công nghệ trình bày tham luận tại hội nghị.

trang_1775438771.jpg

Theo đó, đến năm 2030, sản lượng nuôi trồng thủy sản tại các hồ chứa dự kiến đạt trên 260.000 tấn mỗi năm, với giá trị sản xuất khoảng 16.000 tỷ đồng. Đáng chú ý, mục tiêu đặt ra là có ít nhất 50% cơ sở nuôi tham gia liên kết chuỗi giá trị và 100% cơ sở được cập nhật dữ liệu trên hệ thống quốc gia.

Đề án cũng hướng tới việc xây dựng các vùng nuôi tập trung, áp dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường, qua đó góp phần hình thành nền sản xuất thủy sản hiện đại, thích ứng với biến đổi khí hậu.

trang_1775438771.jpg

cum-4_1775439397.jpg

Đến năm 2030, sản lượng nuôi trồng thủy sản tại các hồ chứa dự kiến đạt trên 260.000 tấn mỗi năm, với giá trị sản xuất khoảng 16.000 tỷ đồng.

trang_1775438771.jpg

Phát biểu kết luận hội nghị, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến khẳng định, phát triển nuôi trồng thủy sản hồ chứa không chỉ là giải pháp khai thác hiệu quả tài nguyên mặt nước, mà còn là hướng đi quan trọng để tạo sinh kế bền vững cho người dân, nhất là tại các vùng khó khăn.

Việc triển khai đồng bộ các giải pháp từ quy hoạch, tổ chức sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ đến hoàn thiện cơ chế, chính sách sẽ là nền tảng để ngành thủy sản phía Bắc bứt phá trong thời gian tới, đóng góp tích cực vào mục tiêu phát triển kinh tế xanh và bền vững của đất nước.

Thực hiện: Sỹ Tùng- Mạnh Hải Thiết kế: Chu Hồng Châu