Quản trị biển hiện đại: Đừng chỉ lấy đi mà không trả lại

Quản trị biển hiện đại: Đừng chỉ lấy đi mà không trả lại

Chủ nhật, 30/8/2026, 12:42 (GMT+7)
logo Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh (Nghị quyết 20) đặt ra yêu cầu chuyển từ tư duy khai thác sang quản trị biển hiện đại và phát triển bền vững. Từng học tập và nghiên cứu tiến sĩ kỹ thuật biển tại Hà Lan, TS. Đào Hoàng Tùng (giảng viên Khoa Khoa học Biển và Hải đảo, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội) chia sẻ với phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường về bài học "làm việc cùng thiên nhiên", số hóa dữ liệu đại dương và giải pháp khơi thông nguồn nhân lực để hiện thực hóa khát vọng quốc gia biển mạnh.

Phóng viên: Nghị quyết 20 đặt ra yêu cầu chuyển đổi tư duy từ khai thác sang quản trị biển hiện đại, từ quản lý ngành sang quản trị tổng hợp. Từ góc độ một nhà nghiên cứu từng học tập và làm việc tại Hà Lan, ông có thể phân tích sự khác biệt cốt lõi giữa hai lối tư duy này?

TS. Đào Hoàng Tùng: Trước hết, cần làm rõ bản chất của hai khái niệm này. Khai thác, theo cách hiểu kỹ thuật, là việc sử dụng tài nguyên mà không tính đến khả năng tái sử dụng, tức là không đặt ra bài toán làm sao để nguồn tài nguyên đó tiếp tục phục vụ cho tương lai. Khai thác dầu khí ngoài khơi là một ví dụ điển hình của việc chúng ta chỉ lấy đi mà không trả lại.

ts-tung_1787889727.jpg
 TS. Đào Hoàng Tùng, giảng viên Khoa Khoa học Biển và Hải đảo, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội

Trong nhiều năm gần đây, khi nguồn nhân lực và công nghệ của Việt Nam đã được nâng cao, tư duy khai thác đang chuyển dần sang một cách tiếp cận thông minh và hiện đại hơn. Một thập kỷ trở lại đây, việc khai thác tận diệt khoáng sản, thủy sản đã và đang giảm dần, mang lại sự ổn định cho hệ sinh thái. Tính tới thời điểm này, các mô hình nuôi trồng thâm canh, bán thâm canh, hay khai thác hải sản dựa vào hệ sinh thái tự nhiên chính là biểu hiện cụ thể của quản trị hiện đại, hướng đến tối ưu hóa lợi ích trong khi vẫn bảo tồn nguồn lợi đang ngày càng hạn hẹp.

Đây chính là tinh thần cốt lõi mà Nghị quyết 20 đặt ra. Theo tôi, điều này hoàn toàn phù hợp với giai đoạn phát triển hiện nay của Việt Nam. Tại Việt Nam, tôi tin rằng cần hướng tới một hệ thống giáo dục về khai thác bền vững, khai thác đi đôi với tái tạo như cách Hà Lan, một quốc gia có nền công nghệ phát triển, đã và đang làm.

Phóng viên: Nghị quyết 20 xác định quy hoạch không gian biển quốc gia là công cụ đột phá để kiểm soát và giải quyết xung đột trong sử dụng không gian biển giữa các ngành kinh tế và nhiệm vụ bảo tồn. Từ trải nghiệm thực tế tại châu Âu, ông có thể chia sẻ cách Hà Lan và các quốc gia trong khu vực áp dụng công cụ này để hài hòa lợi ích phát triển kinh tế với bảo vệ hệ sinh thái biển?

TS. Đào Hoàng Tùng: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài 3.260 km. Việc xây dựng những quy hoạch không gian biển phù hợp là điều kiện tiên quyết để tạo ra công cụ đột phá, giải quyết xung đột giữa phát triển kinh tế và bảo tồn thiên nhiên.

Việt Nam hiện đã và đang ứng dụng một số công nghệ, công cụ quản lý bền vững của châu Âu nhằm bảo vệ lợi ích của người dân trong nuôi trồng thủy hải sản, bảo vệ rừng ngập mặn, bảo tồn rạn san hô qua đó tạo lợi thế cho phát triển kinh tế, du lịch và văn hóa vùng ven biển.

chup-anh-tai_1787891548.jpg
TS. Đào Hoàng Tùng tốt nghiệp Tiến sĩ ngành Kỹ thuật biển tại Trường Đại học Công nghệ Delft, Hà Lan

Một ví dụ cụ thể là dự án Sand Motor tại bờ biển Delfland, gần Scheveningen, Hà Lan. Trong giai đoạn 2005 - 2007, đây là khu vực chịu hiện tượng xói lở rất nghiêm trọng. Các nhà khoa học của Đại học Công nghệ Delft, đứng đầu là Giáo sư, Tiến sĩ Marcel Stive, đã sử dụng công nghệ mô hình hóa để mô phỏng dòng chảy, sự vận chuyển bùn cát và biến đổi hình thái bờ biển khi một khối lượng cát lớn được bồi đắp tại một điểm cố định. Từ điểm bồi đắp đó, sóng và dòng chảy tự nhiên sẽ phân bổ lại cát dọc theo bờ, giúp duy trì và bảo vệ bờ biển trong suốt 20 năm mà không cần can thiệp liên tục.

Đây là một mô hình rất đáng tham khảo, có thể ứng dụng tại những khu vực đang chịu xói lở nghiêm trọng như bờ biển Hội An và một số khu vực ven biển miền Trung.

Phóng viên: Hà Lan nổi tiếng toàn cầu với triết lý "Làm việc cùng với thiên nhiên" (Building with Nature) để ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Theo ông, Việt Nam có thể học hỏi mô hình này như thế nào để nâng cao khả năng chống chịu của vùng ven biển?

TS. Đào Hoàng Tùng: Hà Lan là một đất nước có nhiều bất lợi về địa hình tự nhiên, độ cao trung bình thấp so với mực nước biển với điểm thấp nhất đạt -7m. Cũng chính vì vậy, Hà Lan là quốc gia đi đầu trong ngành kỹ thuật biển, nhưng cũng từng mắc sai lầm với chính triết lý phát triển của mình.

Trong một thời gian dài, Hà Lan theo đuổi hướng "cứng hóa" đường bờ bằng cách xây dựng hàng loạt đê, kè để bảo vệ bờ biển. Tuy nhiên, cách tiếp cận này không tính đến những hệ quả lâu dài, và họ đã phải trả giá. Từ những bài học đó, triết lý của Hà Lan đã thay đổi sang "Building with Nature" xây dựng và phát triển dựa vào khả năng tự nuôi dưỡng, tự cân bằng của thiên nhiên, thay vì áp đặt các công trình cứng lên hệ sinh thái.

Ở Việt Nam, tại khu vực Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long, một số địa phương đã bắt đầu triển khai những dự án kết hợp phát triển kinh tế, thủy hải sản, du lịch song song với phát triển rừng ngập mặn hai hệ sinh thái gắn liền với các vùng đồng bằng này. Đây là mô hình mà không chỉ Việt Nam, mà nhiều quốc gia khác cũng có thể học hỏi để phát triển bền vững, đồng thời nâng cao khả năng chống chịu trước nước biển dâng, bão và các hiện tượng thiên tai.

Phóng viên: Tại Việt Nam, nhiều khu vực ven biển đang bị bê tông hóa bởi các dự án bất động sản. Ông nhìn nhận và đánh giá vấn đề này như thế nào?

TS. Đào Hoàng Tùng: Trên quan điểm kỹ thuật bờ biển thuần túy, tôi cho rằng bê tông hóa hay cứng hóa đường bờ là một giải pháp mang tính chất bền vững để mang đến một dáng vẻ hiện đại và có tính chất bảo vệ, đặc biệt là những giải pháp phục vụ trực tiếp cho quá trình đô thị hóa ven biển. Tuy vậy, những giải pháp này luôn có mặt bất lợi của nó.

Như tôi đã đề cập, chính Hà Lan cũng đang phải gánh chịu hệ quả từ những công trình cứng hóa được xây dựng cách đây nhiều năm. Vì vậy, việc sử dụng các công trình bảo vệ bờ biển cần có sự tham vấn chặt chẽ của giới khoa học, để đưa ra giải pháp phù hợp hơn, đặc biệt tại những khu vực có tính chất nhạy cảm. Hội An và Đà Nẵng là những ví dụ điển hình về khu vực nhạy cảm cao về bùn cát và hình thái bờ biển. Các nhà khoa học cần có thêm những nghiên cứu, đề án cụ thể để giúp các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn chi tiết và phù hợp hơn khi bố trí không gian và quy hoạch.

Phóng viên: Nghị quyết 20 nhấn mạnh khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính, đặt mục tiêu đến năm 2030 hoàn thành 100% việc số hóa và chia sẻ dữ liệu biển. Các công nghệ như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) hay viễn thám đang thay đổi công tác quan trắc, dự báo và quản trị đại dương trên thế giới như thế nào?

TS. Đào Hoàng Tùng: Việc tập trung vào khoa học công nghệ để chuyển đổi số là một trong những nội dung cốt lõi của Nghị quyết 20. Đây là vấn đề đã được Nhà nước tập trung đẩy mạnh trong thời gian vừa qua và điều này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn.

Theo tôi, đây sẽ là điểm nhấn quan trọng từ nay đến năm 2030. Các nhà khoa học sẽ không chỉ tiếp cận dữ liệu đo trực tiếp tại các khu vực biển, mà còn có thể sử dụng thêm những dữ liệu đã được số hóa hoặc mô phỏng từ dữ liệu thực tế đã được thực hiện trong các dự án, đề tài khoa học công nghệ trong những năm trước đó.

Trong ngành khoa học trái đất nói chung và ngành kỹ thuật biển nói riêng, các công cụ như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn hay điện toán đám mây (Cloud Computing) sẽ giúp các nhà khoa học Việt Nam đẩy nhanh tốc độ số hóa dữ liệu đường bờ, dữ liệu quan trắc về thuỷ hải văn biển từ đó đẩy mạnh và tăng cường phục vụ một cách hiệu quả cho công tác nghiên cứu. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng nên có thêm chính sách hỗ trợ các nhà khoa học, giảng viên và các cán bộ quan trắc về công nghệ và tài chính. Từ đó, góp phần đẩy nhanh tốc độ và tăng độ chính xác cho dự báo trong bối cảnh sự phát triển về công nghệ cũng như nền kinh tế đã và đang được tập trung phân bổ cho các ngành khác.

Tôi tin rằng các nhà khoa học Việt Nam sẽ cùng Nhà nước nỗ lực hoàn thành đúng tiến độ mục tiêu số hóa 100% vào năm 2030.

Phóng viên: Tại cuộc điện đàm cấp cao ngày 11/8 vừa qua, Thủ tướng Lê Minh Hưng và Thủ tướng Vương quốc Hà Lan Rob Jetten đã thống nhất coi khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là trụ cột hợp tác mới, đẩy mạnh các dự án trung tâm nghiên cứu R&D, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Ông đánh giá như thế nào về cơ hội mở ra cho các viện, trường tại Việt Nam trong việc tham gia các dự án nghiên cứu R&D quốc tế này?

TS. Đào Hoàng Tùng: Tôi cho rằng chủ trương đẩy mạnh các trung tâm nghiên cứu R&D (Research and Development) là phù hợp và cần được thúc đẩy, nhất là trong bối cảnh Nghị quyết 20 nhấn mạnh vài trò của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tuy nhiên, trong bối cảnh đang có những thay đổi nhất định về nhân sự cũng như cơ chế quản lý, việc xây dựng các trung tâm nghiên cứu mới có thể tạo ra sự chồng chéo nhất định giữa các trường đại học và viện nghiên cứu hiện có tại Việt Nam.

Hiện nay, Việt Nam đang có một thế hệ nhà khoa học trẻ với động lực rất lớn trong việc phát triển bản thân, đồng thời góp phần vào phát triển kinh tế biển và ứng phó biến đổi khí hậu. Vì vậy, các trung tâm nghiên cứu R&D cần có chính sách hợp tác cụ thể hơn với các trường, viện đặt trọng tâm vào nghiên cứu biển trong đó có Khoa Khoa học Biển và Hải đảo, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội. Điều này sẽ giúp các nhà khoa học, giảng viên có cơ hội tiếp cận nguồn tài nguyên nghiên cứu mới, mở rộng trao đổi học thuật và xây dựng môi trường làm việc cởi mở, lành mạnh.

Phóng viên: Nghị quyết 20 đã thẳng thắn chỉ ra hạn chế: Phát triển nguồn nhân lực biển chưa đáp ứng được yêu cầu. Ở góc độ người trực tiếp giảng dạy ngành quản lý biển, ông nhìn nhận đâu là khoảng trống về kỹ năng của sinh viên hiện nay, và nhà trường đang thay đổi ra sao để giải quyết bài toán này?

TS. Đào Hoàng Tùng: Tôi phải thừa nhận rằng nhận định của Nghị quyết 20 về hạn chế trong phát triển nguồn nhân lực biển là hoàn toàn chính xác.

Trên quan điểm giáo dục, việc quảng bá cho các ngành học liên quan đến biển như ngành quản lý biển hiện vẫn chưa được đầu tư một cách tập trung. Đây là một khoảng trống cần được quan tâm nếu muốn thu hút nguồn nhân lực trẻ, đặc biệt là những sinh viên đến từ các địa phương có biển như Ninh Bình, Hải Phòng, Cần Thơ, Cà Mau... những người có thể có thêm động lực để học tập và trở về đóng góp cho quê hương.

Việc xác định vị trí việc làm phù hợp tại các sở, ban, ngành phù hợp là một trong những giải pháp đặt nguồn nhân lực biển thành vị trí trung tâm. Bên cạnh việc mở rộng vị trí việc làm, các ngành học liên quan đến biển, đặc biệt là quản lý biển, cần có đội ngũ giảng viên có chuyên môn phù hợp và năng lực về chuyên ngành biển và các ngành liên quan, để truyền đạt cho sinh viên những kiến thức tối ưu, sát với thực tế vị trí việc làm.

Tôi cho rằng có hai vấn đề cốt lõi cần giải quyết.Một là công tác quảng bá ngành học và vị trí việc làm và hai là năng lực chuyên môn cùng mạng lưới quan hệ học thuật (network) của đội ngũ giảng viên.

Phóng viên: Nghị quyết 20 gửi đi thông điệp mạnh mẽ về khát vọng vươn ra biển lớn, coi thế hệ trẻ là lực lượng quan trọng trong bảo vệ và phát triển biển đảo của Tổ quốc. Ông có thông điệp nào muốn gửi tới các bạn sinh viên đang theo học, cũng như học sinh trung học phổ thông đang cân nhắc lựa chọn ngành khoa học biển và quản lý biển?

TS. Đào Hoàng Tùng: Khát vọng vươn ra biển lớn là thông điệp mà không chỉ riêng tôi, mà những người làm trong nghề đều mong muốn đạt được. Chúng tôi có kinh nghiệm, có tuổi đời, nhưng cần sức khỏe và cần thế hệ trẻ đồng hành để cùng thực hiện khát vọng ấy.

Thông điệp tôi muốn gửi tới các em là hãy tiếp tục học tập, tiếp tục theo đuổi ước mơ và không ngừng nâng cao kỹ năng của bản thân. Bên cạnh khát vọng vươn ra biển lớn, mỗi người cần phát triển nội lực để tạo cho mình một bước đệm, một bàn đạp vững chắc.

Tôi cũng mong các bạn sinh viên, học sinh trung học phổ thông chủ động tham khảo kinh nghiệm từ những người đi trước, đồng thời thường xuyên cập nhật thông tin về biển đảo để từ đó nuôi dưỡng và củng cố động lực theo đuổi con đường này.

Phóng viên: Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện.

Ngày 28/7/2026, tại Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Ít ngày sau, ngày 7/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 218/NQ-CP về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 20-NQ/TW, cụ thể hóa thành các nhiệm vụ quản lý, điều hành cụ thể.

Chương trình hành động này xác định những nhiệm vụ trọng tâm, có tính đột phá trong giai đoạn 2026–2030, tầm nhìn đến năm 2045, đồng thời đặt mục tiêu tăng tỷ trọng đóng góp của các địa phương ven biển, phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh, hoàn thiện hạ tầng biển, nâng cao năng lực khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống nhân dân vùng biển, đảo.

Chính phủ đề ra 9 nhóm nhiệm vụ trọng tâm, trong đó có: Đổi mới tư duy, nâng cao hiệu lực quản trị biển quốc gia; hoàn thiện thể chế và đổi mới quy hoạch không gian biển; huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phát triển mạnh doanh nghiệp biển; phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao; tạo đột phá cho các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh và các ngành kinh tế biển mới, cùng các nhiệm vụ về phát triển hạ tầng biển, bảo vệ môi trường và hệ sinh thái, xây dựng văn hóa biển, và bảo đảm quốc phòng an ninh trên biển, đảo.

 

 

Văn Thanh