Trong khi Luật Bảo vệ môi trường 2020 đã chuyển mạnh sang tư duy phòng ngừa, quản lý rủi ro, thì thực tiễn lại đặt ra một câu hỏi ngược: khi sự cố xảy ra, hệ thống ứng phó có thực sự vận hành hiệu quả?. Từ góc nhìn của người nhiều năm trực tiếp tham gia xử lý các sự cố môi trường và hiện là Tổng Thư ký - Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, ông Phạm Văn Sơn cho rằng, khoảng trống lớn nhất hiện nay không chỉ nằm ở quy định, mà nằm ở cách chúng ta tổ chức năng lực ứng phó trong thực tế.
Ông Phạm Văn Sơn - Tổng Thư ký Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam
Khi sự cố xảy ra, hệ thống ứng phó chưa thực sự “sẵn sàng”
Phóng viên:Thưa ông, từ thực tiễn tham gia xử lý nhiều sự cố môi trường, ông nhìn nhận như thế nào về “khâu ứng cứu” trong quá trình triển khai Luật Bảo vệ môi trường năm 2020?
Ông Phạm Văn Sơn:
Luật Bảo vệ môi trường 2020 là một bước tiến lớn về tư duy, đặc biệt ở việc chuyển từ xử lý hậu quả sang phòng ngừa và quản lý rủi ro. Tuy nhiên, nếu nhìn từ thực tiễn hiện trường, chúng ta vẫn đang thiếu cả phòng ngừa đúng nghĩa lẫn một hệ thống ứng phó thực sự sẵn sàng.
Phòng ngừa đúng nghĩa phải bắt đầu từ quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, từ thiết kế hạ tầng, từ công nghệ, cách vận hành và nguồn lực. Ví dụ rất cụ thể, một cầu cảng nếu không có gờ thu gom nước mặt, thì khi xảy ra sự cố, toàn bộ hóa chất hay dầu tràn sẽ chảy thẳng xuống sông, xuống biển ngay lập tức. Đó là vấn đề phòng ngừa từ thiết kế.
Ở quy mô lớn hơn, những khu vực có nguy cơ gây ô nhiễm hay sự cố tràn dầu - hóa chất thì không thể quy hoạch xen kẽ vùng nuôi trồng thủy sản. Những nơi hay có lũ lụt, tai biến địa chất thì không thể qui hoạch các bãi chôn lấp chất thải hay hồ chứa bùn thải. Nếu quy hoạch sai ngay từ đầu, thì mọi phương án ứng phó sau này đều chỉ là giải pháp tình thế.
Ở chiều ngược lại, khi sự cố xảy ra, yếu tố quyết định lại là thời gian phản ứng. Nhưng hiện nay, việc kích hoạt ứng cứu vẫn phụ thuộc nhiều vào thủ tục và phân cấp hành chính. Chỉ cần chậm vài giờ, hậu quả có thể lan rộng gấp nhiều lần. Trong ứng phó với sự cố môi trường, “thời gian vàng” thường rất ngắn, nhưng chúng ta lại đang để mất nó vì những ràng buộc không cần thiết.
Doanh nghiệp không thể “tự mình ứng cứu” môi trường
Trong bối cảnh các sự cố môi trường ngày càng diễn biến phức tạp, công tác phòng ngừa và ứng phó không chỉ dừng lại ở yếu tố kỹ thuật, mà đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và các đơn vị chuyên môn.
Phóng viên:Luật hiện hành đặt trách nhiệm lớn lên doanh nghiệp. Theo ông, họ có đủ năng lực để tự ứng cứu khi sự cố xảy ra?
Ông Phạm Văn Sơn:
Thực tế là không đối với rất nhiều doanh nghiệp. Ứng phó sự cố môi trường là lĩnh vực kỹ thuật cao, đòi hỏi thiết bị chuyên dụng, con người được huấn luyện bài bản và kinh nghiệm thực địa. Trong khi đó, phần lớn doanh nghiệp hiện nay mới dừng lại ở việc đáp ứng yêu cầu về hồ sơ, chứ chưa xây dựng được năng lực ứng cứu thực chất.
Liên quan đến trang bị ứng phó sự cố, hiện nay đã có những quy định cụ thể, ví dụ như quy định danh mục thiết bị tối thiểu cho ứng phó tràn dầu theo Quyết định 04/2026/QĐ-TTg. Nhưng quy định này mới chỉ áp dụng cho một loại sự cố. Với hóa chất, chất thải hay các tình huống môi trường phức hợp, thì chưa có hướng dẫn tương tự.
Trong thực tế, có một tình trạng khá phổ biến là nhiều doanh nghiệp đầu tư mang tính đối phó. Có nơi không đầu tư đầy đủ, có nơi mua theo đúng “tên gọi” trong quy định nhưng không đảm bảo chất lượng kỹ thuật, hoặc giảm số lượng để tiết kiệm chi phí. Khi xảy ra sự cố, những thiết bị đó gần như không phát huy được hiệu quả. Vì vậy, trên thế giới, ứng cứu sự cố môi trường thường là một dịch vụ chuyên nghiệp. Doanh nghiệp có trách nhiệm, nhưng không có nghĩa là họ phải tự làm tất cả.
Khoảng trống pháp lý không chỉ nằm ở quy định, mà ở cách thực thi
Phóng viên:Theo ông, đâu là khoảng trống lớn nhất trong hệ thống pháp luật hiện nay?
Ông Phạm Văn Sơn:
Khoảng trống lớn nhất không phải là chúng ta thiếu quy định, mà là cách chúng ta tổ chức thực thi các quy định đó.
Trong nhiều văn bản đều có nhắc đến việc khuyến khích xã hội hóa nguồn lực ứng phó sự cố môi trường. Nhưng trên thực tế, cơ chế để làm điều đó gần như chưa rõ ràng. Chúng ta chưa có các chính sách cụ thể như ưu đãi thuế, cơ chế tài chính hay đặt hàng dịch vụ để các lực lượng chuyên nghiệp có thể tham gia một cách chính thức.
Trong khi đó, cách tiếp cận hiện nay vẫn thiên về sử dụng lực lượng công và ngân sách nhà nước, mà chưa thực sự coi các nguồn lực ngoài nhà nước là một phần của hệ thống.
Ở một góc độ khác, cũng cần nhìn thẳng là việc thực thi chưa đủ quyết liệt. Trách nhiệm đảm bảo năng lực phòng ngừa và ứng phó phải thuộc về chính các cơ sở có nguy cơ gây ra sự cố. Nhưng trên thực tế, việc kiểm tra, giám sát và chế tài chưa đủ mạnh để buộc các doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc.
Nếu không làm rõ được hai vấn đề này - vừa tạo cơ chế, vừa nâng cao kỷ luật thực thi, thì chủ trương xã hội hóa sẽ rất khó đi vào thực tế.
Phân cấp là đúng, nhưng năng lực ở cấp cơ sở đang là điểm yếu
Phóng viên:Dự thảo sửa đổi Luật đang đẩy mạnh phân cấp cho địa phương. Theo ông, điều này có đủ để xử lý các sự cố phức tạp?
Ông Phạm Văn Sơn:
Phân cấp là cần thiết, nhưng sự cố môi trường thì không dừng lại ở ranh giới hành chính. Một sự cố có thể lan qua nhiều địa phương trong thời gian rất ngắn, trong khi hệ thống quản lý lại tổ chức theo địa giới. Đây là một điểm cần tính toán rất kỹ.
Trong bối cảnh hiện nay, khi tổ chức chính quyền địa phương chuyển sang mô hình hai cấp, thì vai trò của cấp xã trở nên rất quan trọng. Nhưng thực tế là cấp xã đang thiếu nghiêm trọng đội ngũ cán bộ có chuyên môn về môi trường. Đây là khoảng trống đáng lo ngại, bởi cấp xã chính là nơi phát hiện sớm và phản ứng ban đầu. Nếu không củng cố năng lực cho cấp này, từ đào tạo đến bố trí nhân sự phù hợp, thì việc phân cấp sẽ khó đạt hiệu quả như kỳ vọng.
Cơ chế kích hoạt và tài chính vẫn là “nút thắt” lớn
Phóng viên:Trong các tình huống khẩn cấp, việc huy động lực lượng hiện nay gặp vướng mắc gì?
Ông Phạm Văn Sơn:
Vướng mắc lớn nhất là cơ chế kích hoạt và cơ chế tài chính. Trong nhiều trường hợp, khi sự cố xảy ra, việc đầu tiên lại là xác định trách nhiệm và xem ai sẽ chi trả. Điều này làm chậm quá trình ra quyết định, trong khi ứng phó sự cố thì cần phản ứng ngay.
Nếu không có cơ chế cho phép triển khai trước, xử lý trước và hoàn tất thủ tục sau, thì chúng ta sẽ tiếp tục mất “thời gian vàng”. Ở nhiều quốc gia, họ đã có quỹ ứng phó, có bảo hiểm môi trường, và có cơ chế chi trả khẩn cấp rất rõ ràng. Đây là những kinh nghiệm rất đáng tham khảo.
Ứng cứu chuyên nghiệp cần được nhìn nhận đúng vai trò
Phóng viên:Theo ông, lực lượng ứng cứu chuyên nghiệp nên được đặt ở vị trí nào trong hệ thống?
Ông Phạm Văn Sơn:
Tôi cho rằng cần nhìn nhận đây là một lực lượng có vai trò đặc biệt. Dù phòng ngừa tốt đến đâu, sự cố vẫn có thể xảy ra. Và khi đó, cách chúng ta phản ứng trong những giờ đầu tiên sẽ quyết định phần lớn mức độ thiệt hại. Vì vậy, lực lượng ứng cứu chuyên nghiệp không chỉ là “tuyến cuối”, mà là lực lượng giữ vai trò quyết định trong việc kiểm soát hậu quả.
Nếu được thiết kế đúng, với cơ chế rõ ràng và được tích hợp vào hệ thống chung, lực lượng này sẽ góp phần bảo vệ môi trường, bảo vệ sinh kế của người dân và giữ niềm tin xã hội.
Luật Bảo vệ môi trường 2020 đã tạo ra một nền tảng quan trọng. Nhưng để luật thực sự đi vào cuộc sống, cần hoàn thiện những mắt xích cuối cùng, đặc biệt là trong khâu tổ chức ứng phó sự cố. Và có lẽ, điều quan trọng nhất là phải nhìn nhận rõ: phòng ngừa là để giảm rủi ro, nhưng khi sự cố đã xảy ra, thì cách chúng ta phản ứng trong những giờ đầu tiên mới là yếu tố quyết định chúng ta bảo vệ được môi trường đến đâu.
Sẽ phạt nặng hành vi xả chất thải không qua xử lý ra môi trường- Đây là chỉ đạo của Bộ TN&MT tại cuộc họp biên soạn nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Theo đó, sẽ tước quyền sử dụng giấy phép môi trường đối với các vi phạm xả thải không qua xử lý.
Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR): Dự kiến tỷ lệ tái chế bắt buộc thấp và thời điểm thực hiện trách nhiệm của nhà sản xuất bị lùi lại sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu tái chế quốc gia.
Hãng đóng gói thực phẩm Tetra Pak (Thụy Điển) mới công bố hợp tác với ứng dụng thu mua “ve chai” trên smartphone VECA, nhằm giúp người tiêu dùng thuận tiện hơn trong việc thu gom vỏ hộp giấy đựng đồ uống đã qua sử dụng để tái chế.
Hiện nay, tại một số bến cá ở tỉnh Nghệ An, tình trạng ô nhiễm môi trường đang diễn ra ở mức đáng báo động do các loại rác thải, chất thải từ hoạt động mua bán, chế biến hải sản.
TP.HCM đã tuyên truyền, tập huấn, bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động về tác hại của chất thải nhựa đối với môi trường và con người.