Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và những thách thức ngày càng lớn đối với sản xuất nông nghiệp, các mô hình canh tác bền vững trở thành giải pháp quan trọng không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn cải thiện sinh kế cho cộng đồng. Một trong những mô hình tiêu biểu đó là mô hình cà phê cảnh quan, đang được triển khai tại các xã Yang Mao, Krông Bông, Dak Phơi, Nam Ka, Dak Liêng, tỉnh Đắk Lắk. Trong cuộc phỏng vấn này, TS. Trần Hữu Nghị, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp Nhiệt đới (Tropenbos Việt Nam), đã chia sẻ về vai trò của cộng đồng trong việc thực hiện và duy trì các mô hình cà phê cảnh quan, cũng như những lợi ích lâu dài mà mô hình này mang lại cho nông dân và môi trường.
TS. Trần Hữu Nghị
Phóng viên (PV):Xin chào TS. Trần Hữu Nghị!. Cảm ơn ông đã dành thời gian tham gia phỏng vấn. Câu hỏi đầu tiên xin được hỏi ông về sự tham gia của cộng đồng trong các dự án phục hồi cảnh quan cà phê, đặc biệt là tại các xã Yang Mao, Krông Bông, Dak Phơi, Nam Ka, Dak Liêng, tỉnh Đắk Lắk. Ông có thể chia sẻ về vai trò của cộng đồng trong những dự án này không?
TS. Trần Hữu Nghị: Trong các dự án phục hồi cảnh quan mà Tropenbos Việt Nam triển khai, cộng đồng đóng một vai trò hết sức quan trọng. Cộng đồng không chỉ tham gia vào việc triển khai các mô hình nông, lâm kết hợp mà còn là đối tượng hưởng lợi trực tiếp từ những mô hình này. Cộng đồng giúp duy trì và phát triển các mô hình cà phê cảnh quan, từ việc trồng các cây trồng xen như: cây ăn quả, cây lâm nghiệp đến việc chăm sóc, bảo vệ đất đai, tài nguyên nước và duy trì sự đa dạng sinh học trong vườn cà phê.
Xu hướng hiện nay, người nông dân dịch chuyển sang mô hình “Sản xuất cà phê thông minh” - Đó là sự vận dụng khéo léo và phù hợp nhất các biện pháp kỹ thuật canh tác của nông dân trên vườn cà phê, với các mục tiêu là: giảm chi phí sản xuất, nâng cao thu nhập cho nông dân, giảm phát thải khí nhà kính, làm tăng năng lực thích ứng với tình trạng biến đổi khí hậu.
PV:Như vậy, cộng đồng địa phương đã tham gia vào các hoạt động gì để hỗ trợ việc phục hồi cảnh quan cà phê, thưa ông?
TS. Trần Hữu Nghị: Cộng đồng địa phương tham gia vào nhiều khía cạnh của việc phục hồi cảnh quan. Họ không chỉ trồng và chăm sóc cây cà phê mà còn trồng thêm các cây lâm nghiệp, cây ăn quả và cây thảm phủ để tạo nên các mô hình cà phê cảnh quan bền vững. Điều này không chỉ giúp phục hồi và bảo vệ hệ sinh thái mà còn nâng cao thu nhập cho người dân. Các mô hình này còn giúp cải thiện đất đai, bảo vệ tài nguyên nước và duy trì môi trường sống lành mạnh.
PV:Ông có thể chia sẻ một số mô hình cà phê cảnh quan điển hình mà cộng đồng đã áp dụng tại các các xã Yang Mao, Krông Bông, Dak Phơi, Nam Ka, Dak Liêng, thưa ông?
TS. Trần Hữu Nghị: Một số mô hình điển hình mà cộng đồng đã áp dụng ở các xã Yang Mao, Krông Bông, Dak Phơi, Nam Ka, Dak Liêng bao gồm việc trồng xen các cây ăn quả như: sầu riêng, bơ, xoài, nhãn, vải, và các cây lâm nghiệp như giổi thơm, sao đen, giáng hương... Trong các vườn cà phê này, cây che bóng như muồng đen và keo dậu được trồng để giúp điều tiết ánh sáng và bảo vệ cà phê khỏi tác động của gió và nắng. Mô hình này không chỉ bảo vệ cà phê mà còn đem lại lợi ích kinh tế từ cây ăn quả và cây lâm nghiệp.
Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Ka ở tỉnh Đắk Lắk không chỉ là kho báu đa dạng sinh học mà còn là nguồn sinh kế cho các cộng đồng dân tộc thiểu số.
PV:Xin ông cho biết, trong quá trình triển khai các mô hình này, cộng đồng địa phương này đã đối mặt với những thách thức nào thưa ông?
TS. Trần Hữu Nghị: Đúng là trong quá trình triển khai các mô hình này, cộng đồng gặp phải một số khó khăn. Một trong những thách thức lớn nhất là thiếu hụt kiến thức và kỹ thuật về trồng trọt, nhất là việc kết hợp các cây trồng xen một cách hợp lý để đạt hiệu quả cao. Bên cạnh đó, việc duy trì và bảo vệ môi trường cũng đòi hỏi sự nỗ lực lớn từ cộng đồng. Thêm vào đó, khó khăn về nguồn lực tài chính và sự hỗ trợ từ các cơ quan chức năng cũng là yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của mô hình.
PV:Vậy các tổ chức như Tropenbos Việt Nam và IDH đã hỗ trợ cộng đồng như thế nào trong quá trình thực hiện các mô hình cà phê cảnh quan thưa ông?
TS. Trần Hữu Nghị: Tropenbos Việt Nam và IDH đã hỗ trợ rất nhiều trong việc cung cấp kiến thức và kỹ thuật cho cộng đồng. Chúng tôi đã tổ chức các buổi tập huấn, hội thảo để truyền đạt cho người dân các kỹ thuật canh tác bền vững, cách trồng xen các loại cây sao cho hợp lý với cây cà phê và các yếu tố tự nhiên. Ngoài ra, chúng tôi cũng giúp cộng đồng tiếp cận các nguồn lực tài chính, hỗ trợ các chính sách và tạo điều kiện cho họ thực hiện các mô hình này một cách hiệu quả hơn.
Tropenbos Việt Nam hỗ trợ cây giống và tổ chức trồng cây, cải thiện sinh kế
PV:Ông có thể chia sẻ về lợi ích mà cộng đồng nhận được khi tham gia vào các dự án phục hồi cảnh quan cà phê?
TS. Trần Hữu Nghị: Vâng, lợi ích lớn nhất mà cộng đồng nhận được chính là sự cải thiện sinh kế. Các mô hình cà phê cảnh quan không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn tạo ra thu nhập ổn định cho nông dân. Các cây trồng xen như cây ăn quả hoặc cây lâm nghiệp giúp gia tăng thu nhập từ nhiều nguồn, không chỉ phụ thuộc vào cà phê. Đồng thời, việc duy trì một hệ sinh thái khỏe mạnh giúp đất đai không bị thoái hóa, giữ được độ ẩm và khả năng sản xuất trong nhiều năm sau. Cộng đồng cũng được nâng cao nhận thức về việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, từ đó cải thiện chất lượng cuộc sống.
PV:Trong tương lai, ông nghĩ rằng mô hình cà phê cảnh quan có thể được nhân rộng không, và nếu có thì cần những yếu tố gì để thực hiện?
TS. Trần Hữu Nghị: Tôi tin rằng mô hình cà phê cảnh quan hoàn toàn có thể được nhân rộng, đặc biệt là ở các vùng cà phê khác trong Tây Nguyên và các khu vực tương tự. Tuy nhiên, để thực hiện điều này, cần có sự hỗ trợ mạnh mẽ từ các tổ chức chính phủ và phi chính phủ, đồng thời cần tăng cường công tác đào tạo, tập huấn cho cộng đồng về các kỹ thuật canh tác bền vững. Cũng cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa nông dân, các tổ chức nghiên cứu và các cơ quan chức năng để cùng nhau tạo ra những mô hình hiệu quả, bền vững và dễ dàng áp dụng.
Cán bộ của Tropenbos Việt Nam hướng dẫn người dân triển khai thực hiện mô hình cafe thông minh
PV:Cảm ơn TS. Trần Hữu Nghị vì những chia sẻ rất giá trị. Phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường hy vọng rằng, các mô hình cà phê cảnh quan sẽ tiếp tục phát triển và mang lại những lợi ích bền vững cho cộng đồng.
TS. Trần Hữu Nghị: Tôi tin rằng với sự nỗ lực của cộng đồng và sự hỗ trợ từ các tổ chức, mô hình cà phê cảnh quan sẽ trở thành một giải pháp quan trọng giúp phát triển nông nghiệp bền vững và bảo vệ môi trường tại các vùng sản xuất cà phê.
Người dân đồng bào vùng Tây Nguyên đang chung tay xây dựng và tạo ra chuỗi giá trị kinh tế mới, nâng cao chất lượng cuộc sống
Cuộc trò chuyện với TS. Trần Hữu Nghị không chỉ làm rõ vai trò thiết yếu của cộng đồng trong việc phục hồi cảnh quan cà phê mà còn mở ra những cơ hội bền vững cho cả nông dân và môi trường. Việc áp dụng các mô hình cà phê cảnh quan không chỉ giúp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên mà còn tạo ra một chuỗi giá trị kinh tế mới, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng. Như TS. Trần Hữu Nghị đã chia sẻ, việc nhân rộng những mô hình này đòi hỏi sự hỗ trợ mạnh mẽ từ các tổ chức và sự hợp tác chặt chẽ giữa các bên liên quan. Trong tương lai, các mô hình nông lâm kết hợp này sẽ tiếp tục phát huy hiệu quả, mang lại lợi ích lâu dài cho cả cộng đồng và thiên nhiên, đồng thời tạo dựng một nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững trong ngành cà phê Việt Nam.
Những kết quả nổi bật trong xây dựng nông thôn mới và triển khai Chương trình OCOP đã góp phần làm thay đổi diện mạo nông thôn Hà Nội theo hướng ngày càng khang trang, hiện đại. Không chỉ nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân, các chương trình còn tạo động lực thúc đẩy sản xuất, phát huy tiềm năng địa phương, qua đó đóng góp quan trọng vào mục tiêu phát triển bền vững của Thủ đô Hà Nội.
Sáng 22/02, tại Trường Mầm non Vạn Hòa, xã Nông Cống (Thanh Hóa) đã long trọng tổ chức Lễ phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” xuân Bính Ngọ 2026 trong không khí phấn khởi của những ngày đầu năm mới. Buổi lễ không chỉ thể hiện quyết tâm của Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân trong việc bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu mà còn tiếp tục lan tỏa sâu rộng phong trào trồng cây, gây rừng theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, góp phần xây dựng nông thôn mới bền vững.
Sau gần hai năm triển khai, mô hình sản xuất, kinh doanh thực phẩm an toàn gắn với văn hóa, du lịch và ẩm thực tại làng cổ Đường Lâm (Sơn Tây, Hà Nội) đã cho thấy những chuyển biến rõ nét, góp phần nâng cao chất lượng an toàn thực phẩm (ATTP), bảo tồn giá trị di sản và tạo nền tảng cho phát triển du lịch bền vững tại địa phương.
Bước vào niên vụ mía năm 2026, vùng nguyên liệu xã Mường Bi (tỉnh Phú Thọ) ghi nhận nhiều chuyển biến khả quan khi năng suất mía tăng, giá thu mua duy trì ở mức ổn định và mối liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp ngày càng được củng cố. Những tín hiệu tích cực này đang tạo động lực để người trồng mía yên tâm đầu tư sản xuất, từng bước hướng tới phát triển bền vững cây mía tại địa phương.
Trong nhiệm kỳ 2021-2025, xây dựng nông thôn mới đã vượt ra khỏi khuôn khổ một chương trình mục tiêu, trở thành nền tảng phát triển bền vững, gắn trực tiếp với nâng cao chất lượng sống của người dân nông thôn. Những thành tựu đạt được là kết tinh của ý Đảng - lòng dân, in đậm dấu ấn lãnh đạo, chỉ đạo của ngành Nông nghiệp và Môi trường, đóng góp quan trọng vào thành tựu chung của đất nước trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.