
Ngày 8/4, đồng chí Trần Đức Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, được Bộ Chính trị phân công giữ chức Bí thư Thành ủy Hà Nội nhiệm kỳ 2025 - 2030. Đây là sự ghi nhận của Đảng và Nhà nước đối với đồng chí Trần Đức Thắng trong quá trình lãnh đạo, nhất là thời gian công tác ở Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã để lại nhiều dấu ấn.
Ngày 17/7/2025, khi đang giữ cương vị Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Thường trực, đồng chí Trần Đức Thắng được điều động, giao Quyền Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Đến ngày 25/10/2025, đồng chí chính thức được Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm giữ chức Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Trọng trách mới được đặt ra trong bối cảnh ngành đối mặt với yêu cầu đổi mới toàn diện, đòi hỏi phương thức điều hành quyết liệt, sát thực tiễn và tổ chức thực hiện hiệu quả. Trong thời gian ngắn, nhiều chuyển biến rõ nét đã diễn ra trên các lĩnh vực, qua đó thể hiện năng lực điều hành cũng như khả năng đưa chủ trương vào thực tiễn.
Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường xin điểm lại những dấu ấn, thành tựu tiêu biểu, phản ánh các chuyển động nổi bật của ngành, qua đó làm rõ phương thức điều hành nhất quán, quyết liệt và bám sát thực tiễn của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng.

Thể chế, chính sách được xác định là khâu mở đường, trong đó trọng tâm là tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và nâng cao hiệu lực quản lý. Ngay sau khi được điều động công tác tại Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ trưởng Trần Đức Thắng đã tập trung vào cải cách thể chế, chính sách. Dưới sự chỉ đạo, điều hành của đồng chí, công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật được triển khai một cách bài bản, đồng bộ, gắn chặt với yêu cầu thực tiễn, đồng thời chú trọng đến tổ chức thi hành, phổ biến và đưa chính sách vào cuộc sống.
Trong các kỳ họp với Quốc hội và Chính phủ, Bộ trưởng đã chủ trì trình bày những dự án luật quan trọng liên quan đến nông nghiệp và môi trường, bao gồm việc sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật chuyên ngành, cải cách thủ tục hành chính và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực này.
Một trọng tâm nằm ở sửa đổi Luật Địa chất và Khoáng sản và Luật Đất đai, nhằm đưa đất đai và tài nguyên trở thành nguồn lực chiến lược cho phát triển bền vững và tháo gỡ các vướng mắc trong cấp phép, khai thác, sử dụng tài nguyên phục vụ phát triển đất nước.
Đặc biệt, với tinh thần chủ động, quyết liệt, sau khi Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới được ban hành, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã xây dựng chương trình hành động, thành lập Ban Chỉ đạo và cụ thể hóa thành các nhiệm vụ rõ ràng theo lộ trình. Trong năm 2025, Bộ đã hoàn thành 14/14 nhiệm vụ theo kế hoạch, 137 văn bản được xây dựng, trình và ban hành trong năm. Bộ cũng đã trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ 20 văn bản vào cuối năm 2025, trong đó riêng tháng 1/2026 đã có 14 văn bản được ban hành.
Cùng với đó, Bộ đã tham mưu ban hành 3 nghị định và trực tiếp ban hành 18 thông tư nhằm phân định rõ thẩm quyền giữa các cấp quản lý. Trong 375 thẩm quyền được phân quyền, phân cấp, có 139 thẩm quyền được chuyển từ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về Bộ trưởng và 182 thẩm quyền được chuyển giao cho chính quyền địa phương. Việc phân cấp này không chỉ góp phần giảm tải cho cấp Trung ương, mà còn tạo điều kiện để địa phương chủ động hơn trong quản lý và giải quyết công việc.
Công tác rà soát, tháo gỡ các “điểm nghẽn” pháp lý cũng được đẩy mạnh, 39/48 vướng mắc được xử lý, số còn lại tiếp tục được tập trung giải quyết trong năm 2026.
Cải cách thủ tục hành chính tiếp tục thực hiện cắt giảm và đơn giản hóa trên nhiều phương diện: Cắt giảm 7 ngành nghề kinh doanh có điều kiện; đơn giản hóa 256/845 điều kiện đầu tư kinh doanh; đơn giản hóa 486/518 thủ tục hành chính. Những kết quả này góp phần trực tiếp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp, đồng thời nâng cao tính minh bạch và hiệu quả trong hoạt động công vụ.

Ngày 23/1/2026, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng được bầu vào Bộ Chính trị khóa XIV, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong quá trình công tác. Đây không chỉ là sự đánh giá cao của Trung ương đối với quá trình rèn luyện, năng lực lãnh đạo và thực tiễn công tác, mà còn khẳng định vai trò ngày càng nổi bật của lĩnh vực nông nghiệp và môi trường trong chiến lược phát triển quốc gia.
Sự tham gia của người đứng đầu ngành trong cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng cho thấy các vấn đề về phát triển bền vững, an ninh lương thực, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu tiếp tục được đặt ở vị trí trung tâm trong hoạch định đường lối, chủ trương lớn. Đồng thời, đây cũng là điều kiện để tăng cường sự gắn kết giữa thực tiễn quản lý ngành với quá trình xây dựng chính sách ở tầm chiến lược, góp phần nâng cao chất lượng tham mưu và tổ chức thực hiện.
Tiếp đó, việc Bộ trưởng Trần Đức Thắng trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI tại đơn vị bầu cử số 3, thành phố Cần Thơ, tiếp tục thể hiện sự tín nhiệm của cử tri đối với năng lực, kinh nghiệm và quá trình công tác. Trên cương vị đại biểu dân cử, trách nhiệm không chỉ dừng ở việc tham gia hoạt động lập pháp, giám sát, mà còn là cầu nối giữa nhân dân với Quốc hội và các cơ quan nhà nước.
Tại các cuộc tiếp xúc cử tri, Bộ trưởng nhấn mạnh yêu cầu đặt lợi ích quốc gia, dân tộc và nhân dân lên trên hết; chủ động phản ánh tâm tư, nguyện vọng chính đáng của cử tri; đồng thời theo dõi, đôn đốc việc giải quyết các kiến nghị, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Phương châm “gần dân, trọng dân, vì dân, hành động thực chất, hiệu quả” được xác định là định hướng xuyên suốt trong thực hiện nhiệm vụ.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và cạnh tranh toàn cầu, Bộ trưởng Trần Đức Thắng luôn coi khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo là trụ cột để nâng cao năng suất và giá trị sản phẩm nông nghiệp.
Trong các hội nghị khoa học lớn gần đây, Bộ trưởng luôn nhấn mạnh việc ứng dụng công nghệ số, dữ liệu và quy trình sản xuất công nghệ cao vào nông nghiệp, như nuôi trồng thủy sản công nghiệp, trồng rừng giá trị cao hay các mô hình sinh thái bền vững. Điều này không chỉ giúp tăng năng suất mà còn nâng cao chất lượng sản phẩm, đóng góp vào mục tiêu phát triển xanh, bền vững.
Dưới sự chỉ đạo của Bộ trưởng Trần Đức Thắng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã hoàn thành và đưa vào khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Trong chiến dịch 90 ngày “làm giàu, làm sạch” dữ liệu, toàn ngành đã rà soát, cập nhật 61,72 triệu thửa đất; trong đó hơn 24,37 triệu thửa đạt tiêu chí “đúng - đủ - sạch - sống”. Đồng thời, hơn 6,2 triệu trên tổng số hơn 7,6 triệu giấy chứng nhận đã được thu thập, đạt trên 81%. Công tác đồng bộ dữ liệu được triển khai trên phạm vi toàn quốc với 34/34 tỉnh, thành phố kết nối về cơ sở dữ liệu quốc gia, đạt khoảng 98% tổng số thửa đất trong hệ thống địa phương. Cùng với đó, Bộ đã ban hành 8 kế hoạch, 2 chiến lược và 1 khung kiến trúc số; cung cấp 252 thủ tục hành chính trên hệ thống trực tuyến, trong đó có 89 dịch vụ công trực tuyến toàn trình (đạt 100% số thủ tục đủ điều kiện) và 163 dịch vụ công trực tuyến một phần.
Tại Hội nghị “Thúc đẩy đột phá nghiên cứu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo gắn với đào tạo của các viện, Bộ trưởng Trần Đức Thắng đã nhấn mạnh nguồn lực khoa học của ngành là “tài sản vô giá” và cần trở thành động lực then chốt tạo đột phá. Toàn ngành hiện có 11.427 cán bộ khoa học (trong đó, có 44 giáo sư, 283 phó giáo sư, 1.668 tiến sĩ), cùng hàng chục tổ chức khoa học - công nghệ, đơn vị đào tạo và quản lý. Ngành đã tạo ra nhiều giống cây trồng, vật nuôi, quy trình và công nghệ mới, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản xuất.
Nhiều tiến bộ đã được đưa vào thực tiễn, thể hiện qua 1.000 mô hình sản xuất ứng dụng khoa học công nghệ; 31 thiết bị, vật liệu mới. Đồng thời,phát triển mạnh các nghiên cứu công bố quốc tế: 3.665 bài báo quốc tế (tăng 49%) và 6.540 bài báo trong nước (tăng 34%). Bộ cũng xây dựng và công bố 193 quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) và ban hành 1.864 tiêu chuẩn quốc gia (TCVN); đang tiếp tục xây dựng thêm 3 QCVN và 82 TCVN.
Các kết quả này đã được ứng dụng rộng rãi, giúp doanh nghiệp và nông dân giảm chi phí đầu tư, tăng lợi nhuận, nâng hiệu quả sản xuất từ 10-30%. Nhiều doanh nghiệp lớn đã đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao, tạo chuỗi giá trị và áp dụng quy trình sản xuất hiện đại đóng góp tích cực vào tăng trưởng ngành.
Hoạt động khoa học công nghệ của Bộ đã được ghi nhận bằng 01 Giải thưởng Hồ Chí Minh, 03 Giải thưởng Nhà nước về KHCN và nhiều giải thưởng khác như Nhân tài Đất Việt, Sáng kiến Khoa học 2024.

Bộ trưởng Trần Đức Thắng đã để lại nhiều kết quả rõ nét trong quản lý tài nguyên - môi trường, với định hướng xuyên suốt là kết hợp hài hòa giữa khai thác và bảo vệ, giữa phát triển kinh tế và bền vững sinh thái.
Trong lĩnh vực đất đai, một trong những bước tiến quan trọng là thúc đẩy xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia. Bộ trưởng Trần Đức Thắng nhấn mạnh, đây không chỉ là nhiệm vụ chuyên môn, mà còn là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, thể hiện quyết tâm của các bộ, ngành, địa phương trong triển khai các nghị quyết về chuyển đổi số. Theo định hướng, đến năm 2026 sẽ hoàn thành 100% dữ liệu đến từng thửa đất, tạo nền tảng cho quản lý minh bạch, hiện đại, đồng thời góp phần tháo gỡ những điểm nghẽn trong tiếp cận đất đai của người dân và doanh nghiệp. Việc số hóa dữ liệu đất đai không chỉ phục vụ quản lý Nhà nước mà còn mở ra không gian phát triển mới cho thị trường và các ngành kinh tế liên quan.
Ở lĩnh vực bảo vệ môi trường, tư duy quản lý có bước chuyển rõ từ “xử lý hậu quả” sang “phòng ngừa và kinh tế hóa môi trường”. Môi trường được xác định là một nguồn lực phát triển, gắn với kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh và giảm phát thải, qua đó góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng cực đoan, yêu cầu nâng cao năng lực quản lý tài nguyên - môi trường trở nên cấp thiết. Năm 2025, thiên tai gây thiệt hại nặng nề với 256 người chết và mất tích, thiệt hại kinh tế trên 61.000 tỷ đồng. Trước thực tế đó, ngành đã chuyển mạnh từ bị động ứng phó sang chủ động phòng ngừa, nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Về địa chất và khoáng sản, việc hoàn thiện thể chế tiếp tục được đẩy mạnh, đặc biệt trong sửa đổi các quy định liên quan đến Luật Địa chất và Khoáng sản, nhằm tháo gỡ vướng mắc trong cấp phép, khai thác và sử dụng tài nguyên, đồng thời bảo đảm quản lý chặt chẽ, tránh thất thoát và gắn với yêu cầu bảo vệ môi trường.
Cách tiếp cận trong quản lý tài nguyên - môi trường vì vậy đang chuyển từ tư duy điều tiết sang kiến tạo phát triển. Các nguồn lực đất đai, môi trường, khoáng sản không chỉ được quản lý chặt chẽ mà còn được khai thác hiệu quả, minh bạch, gắn với yêu cầu tăng trưởng xanh và bền vững, qua đó từng bước mở ra sự liên kết chặt chẽ hơn giữa quản lý tài nguyên với phát triển kinh tế - xã hội.

Năm 2025 đánh dấu một bước tiến quan trọng của ngành Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực xuất khẩu nông - lâm - thủy sản. Dưới sự chỉ đạo sát sao của Bộ trưởng Trần Đức Thắng, ngành không chỉ đạt tăng trưởng ổn định mà còn xác lập kỷ lục kim ngạch xuất khẩu, thể hiện hiệu quả của chiến lược phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và mở rộng thị trường quốc tế.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tổng kim ngạch xuất khẩu nông - lâm - thủy sản năm 2025 đạt 70,09 tỷ USD, tăng 12% so với năm 2024, vượt xa mục tiêu 65 tỷ USD đặt ra trước đó và trở thành mức cao nhất từ trước tới nay. Con số này phản ánh sự chỉ đạo quyết liệt của Bộ trưởng Trần Đức Thắng trong việc củng cố chuỗi giá trị, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu, đồng thời triển khai chính sách hỗ trợ doanh nghiệp thích ứng với tiêu chuẩn quốc tế.
Ở lĩnh vực trồng trọt, năm 2025, sản lượng lúa cả nước đạt khoảng 43,5 triệu tấn, trong khi tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 47,9 triệu tấn, tăng so với năm trước. Dù diện tích gieo trồng giảm nhẹ, năng suất vẫn được cải thiện nhờ ứng dụng giống mới và tiến bộ kỹ thuật, qua đó bảo đảm vững chắc an ninh lương thực và duy trì vai trò xuất khẩu.
Trong lĩnh vực chăn nuôi và thú y, ngành tiếp tục phục hồi sau giai đoạn chịu tác động của dịch bệnh và chi phí đầu vào. Chăn nuôi lợn từng bước tái đàn, chăn nuôi gia cầm duy trì tăng trưởng nhờ mở rộng quy mô và kiểm soát dịch bệnh tốt hơn.
Trong cơ cấu xuất khẩu năm 2025, nông sản đạt 37,25 tỷ USD (tăng 13,7%), thủy sản đạt 11,32 tỷ USD (tăng 12,7%), lâm sản đạt 18,5 tỷ USD (tăng 6,6%), sản phẩm chăn nuôi đạt 628 triệu USD (tăng 17,4%), cùng các nhóm vật tư sản xuất và muối cũng ghi nhận mức tăng ấn tượng. Đây là minh chứng rõ rệt cho chiến lược nâng cao giá trị gia tăng và chất lượng sản phẩm nông nghiệp mà Bộ trưởng Trần Đức Thắng đề ra, đồng thời khẳng định năng lực quản lý, điều hành hiệu quả trong bối cảnh thị trường quốc tế nhiều biến động.
Sang quý I năm 2026, ngành tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định. Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 16,69 tỷ USD, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nông sản đóng góp 8,93 tỷ USD, thủy sản 2,62 tỷ USD, sản phẩm chăn nuôi 197,7 triệu USD, còn lâm sản đạt 4,11 tỷ USD. Đặc biệt, kim ngạch xuất khẩu tháng 3/2026 đạt 6,02 tỷ USD, tăng tới 47,8% so với tháng trước, cho thấy sức bật mạnh mẽ từ các biện pháp chỉ đạo sản xuất, hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu và mở rộng thị trường mà Bộ trưởng Trần Đức Thắng đã triển khai.


Chủ động trong việc thúc đẩy hợp tác quốc tế nhằm khai thác cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do và hợp tác chiến lược trong lĩnh vực nông nghiệp xanh và môi trường, Bộ trưởng Trần Đức Thắng đã thường xuyên tham gia và phát biểu tại các diễn đàn quốc tế, nhấn mạnh Việt Nam sẽ chủ động trong chuyển đổi xanh, thích ứng biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường và an ninh lương thực, những lĩnh vực có vai trò ngày càng quan trọng trong quan hệ quốc tế hiện nay.
Ở cấp song phương, Việt Nam đã thiết lập và triển khai các khuôn khổ hợp tác cụ thể với nhiều đối tác quan trọng. Với Canada, hai bên thúc đẩy nông nghiệp bền vững, giảm phát thải carbon, thị trường carbon, an toàn thủy hải sản và dự kiến ký Biên bản ghi nhớ về môi trường và khí hậu, đồng thời triển khai dự án 1 triệu ha lúa phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long. Với Thụy Sĩ, hợp tác tập trung vào tín chỉ carbon theo Điều 6 của Thỏa thuận Paris và phát triển thị trường carbon, đồng thời xây dựng khung pháp lý trong nước. Quan hệ với Vương quốc Anh được nâng tầm với hợp tác toàn diện trong chuyển đổi xanh, năng lượng tái tạo, nông nghiệp phát thải thấp, kinh tế biển và thị trường carbon, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Tại châu Á, hợp tác với Nhật Bản tập trung vào mô hình “đào tạo - thực hành - khởi nghiệp” và liên kết các cơ sở đào tạo. Với Brunei, hai bên ký kết MoU về thủy sản, chống khai thác IUU, nông nghiệp Halal và nghiên cứu khoa học.
Trên bình diện đa phương, Bộ trưởng thúc đẩy hợp tác với các tổ chức quốc tế. Việc ký MoU với WWF tập trung vào nông nghiệp bền vững, bảo tồn đa dạng sinh học và tín chỉ carbon. Với EU, hợp tác hướng tới tháo gỡ rào cản thương mại, chống khai thác IUU, kinh tế tuần hoàn và thích ứng biến đổi khí hậu, bao gồm dự án hỗ trợ kỹ thuật ngành lâm nghiệp trị giá 20 triệu euro. Với Hoa Kỳ, thông qua bang Iowa, đã triển khai 5 MoU trị giá khoảng 800 triệu USD, kêu gọi đầu tư vào chuỗi giá trị nông nghiệp, thức ăn chăn nuôi và nông nghiệp tuần hoàn.
Ở cấp khu vực, Bộ trưởng chủ trì cơ chế Ủy ban hợp tác nông nghiệp Việt Nam - Trung Quốc, mở rộng hợp tác thương mại nông sản, khoa học công nghệ, đào tạo nhân lực và xây dựng trung tâm nghiên cứu giống lúa.
Có thể thấy, dưới sự điều hành của Bộ trưởng Trần Đức Thắng, lĩnh vực hợp tác quốc tế đã gắn hợp tác với nhu cầu phát triển trong nước, chuyển hóa cam kết thành dự án cụ thể, đồng thời tận dụng hiệu quả nguồn lực quốc tế để phục vụ mục tiêu phát triển nông nghiệp xanh, bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu của Việt Nam.

An sinh xã hội và giảm nghèo bền vững được định hình theo hướng tích hợp, lấy nâng cao đời sống người dân làm mục tiêu xuyên suốt. Điểm nhấn trong giai đoạn này là việc Bộ trưởng Trần Đức Thắng thay mặt Chính phủ trình Quốc hội chủ trương tích hợp các chương trình mục tiêu quốc gia, nhằm khắc phục tình trạng phân tán nguồn lực và nâng cao hiệu quả đầu tư.
Ngày 3/12/2025, Bộ trưởng đã trình bày Tờ trình về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đến năm 2035. Tờ trình xác định rõ mục tiêu đến năm 2030: phấn đấu 100% số xã nghèo thoát khỏi tình trạng nghèo; vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cơ bản không còn địa bàn đặc biệt khó khăn. Trước đó, ngày 25/11/2026, tại Phiên họp lần thứ 51 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Bộ trưởng Trần Đức Thắng đã trình bày tờ trình về việc tích hợp ba Chương trình mục tiêu quốc gia thành một Chương trình để không làm giảm đi các chính sách, mà khắc phục sự chồng chéo, trùng lặp và giúp tập trung hơn vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Đặc biệt, ngày 31/01/2026, Bộ trưởng đã phê duyệt và triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2026-2035. Trong đó, đặt ra các mục tiêu cụ thể như: Tăng thu nhập bình quân người dân nông thôn gấp 2,5 - 3 lần so với năm 2020, giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều 1 - 1,5% mỗi năm, thu nhập của người dân tộc thiểu số đạt khoảng 1/2 mức bình quân chung; khoảng 65% số xã đạt chuẩn nông thôn mới.
Bộ trưởng Trần Đức Thắng còn thường xuyên tham gia các chuyến công tác trực tiếp đến các địa bàn khó khăn, như vùng cao tỉnh Sơn La và Lào Cai, thăm hộ nghèo, trao hỗ trợ vật chất và tinh thần, đồng thời lắng nghe ý kiến để điều chỉnh chính sách cho sát với nhu cầu thực tế. Các chương trình và chuyến thăm thực tế đã củng cố niềm tin của người dân vào chính sách nhà nước, đồng thời tạo ra cơ sở để phát triển bền vững trong những năm tiếp theo.

Ngày 8/4/2026, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Ủy viên Bộ Chính trị được Bộ Chính trị phân công giữ chức Bí thư Thành ủy Thành phố Hà Nội, nhiệm kỳ 2025 - 2030. Đây không chỉ là sự ghi nhận những đóng góp nổi bật trên cương vị Bộ trưởng, mà còn thể hiện niềm tin của Đảng và Nhà nước đối với tầm nhìn lãnh đạo, tư duy đổi mới và bản lĩnh điều hành đã được khẳng định trong thực tiễn.
Nhìn lại chặng đường công tác tại Bộ Nông nghiệp và Môi trường, những dấu ấn trong hoàn thiện thể chế, thúc đẩy chuyển đổi số, quản lý hiệu quả tài nguyên, phát triển nông nghiệp xanh, mở rộng thị trường xuất khẩu, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế cũng như gắn tăng trưởng với an sinh xã hội và giảm nghèo bền vững đã góp phần định hình một phương thức quản trị hiện đại, hiệu quả và có tầm nhìn dài hạn. Những kinh nghiệm đó được kỳ vọng sẽ trở thành nền tảng quan trọng khi đảm nhận trọng trách mới tại Thủ đô.
Trên cương vị Bí thư Thành ủy Hà Nội, với yêu cầu ngày càng cao của một đô thị đặc biệt - trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa của cả nước - việc tiếp tục phát huy tư duy đổi mới, khả năng điều phối liên ngành và tầm nhìn phát triển bền vững sẽ có ý nghĩa quyết định. Trên nền tảng những thành tựu đã đạt được, đồng chí được kỳ vọng sẽ cùng tập thể lãnh đạo Thành phố Hà Nội thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, thông minh, bền vững; nâng cao chất lượng sống của người dân; đồng thời xây dựng Thủ đô ngày càng văn minh, hiện đại, xứng đáng với vị thế trung tâm của cả nước và hội nhập quốc tế sâu rộng.
Với niềm tin đó, tân Bí thư Thành ủy Thành phố Hà Nội Trần Đức Thắng sẽ tiếp tục phát huy bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần trách nhiệm, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên cương vị mới, góp phần mở ra một giai đoạn phát triển mới năng động, bền vững và giàu bản sắc văn hóa của Thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến./.