Tăng kiểm soát khai thác khoáng sản bằng dữ liệu số

Tăng kiểm soát khai thác khoáng sản bằng dữ liệu số

Thứ tư, 24/6/2026, 07:21 (GMT+7)
logo Việc Quốc hội ban hành Luật Địa chất và Khoáng sản năm 2024 đã đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản phương thức quản lý tài nguyên khoáng sản theo hướng minh bạch, hiện đại và dựa trên dữ liệu. Để cụ thể hóa các quy định của luật, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Văn bản hợp nhất số 63/VBHN-BNNMT hợp nhất các quy định về khai thác khoáng sản, khai thác tận thu khoáng sản và thu hồi khoáng sản.

Không chỉ hướng dẫn các thủ tục hành chính liên quan đến khai thác khoáng sản, văn bản còn tạo ra khung quản lý mới đối với sản lượng khai thác, dữ liệu hoạt động mỏ, trách nhiệm lưu trữ hồ sơ, báo cáo và kết nối thông tin giữa doanh nghiệp với cơ quan quản lý nhà nước. Đây được xem là một trong những bước đi quan trọng nhằm chuyển từ mô hình quản lý chủ yếu dựa trên hồ sơ giấy sang quản trị tài nguyên bằng dữ liệu số.

anh-t42_1781752476.png
ảnh minh hoạ

Hoàn thiện cơ chế quản lý khoáng sản nhóm IV

Một trong những nội dung đáng chú ý của văn bản là quy định chi tiết việc khảo sát, đánh giá thông tin chung đối với khoáng sản nhóm IV. Theo quy định, đối với các khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản, tổ chức, cá nhân chỉ được thực hiện khảo sát sau khi được Sở Nông nghiệp và Môi trường chấp thuận bằng văn bản. Đối với khu vực đấu giá quyền khai thác khoáng sản, tổ chức, cá nhân trúng đấu giá được thực hiện khảo sát sau khi kết quả đấu giá được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

Thông tư quy định khá chặt chẽ về nội dung khảo sát. Tổ chức, cá nhân phải thực hiện đo đạc bản đồ địa hình tỷ lệ không nhỏ hơn 1:5.000; khảo sát địa chất theo các tuyến, điểm khảo sát được xác định cụ thể; thi công công trình địa chất; lấy mẫu, phân tích mẫu; khảo sát địa chất thủy văn và đánh giá đầy đủ các yếu tố liên quan đến thân khoáng sản.

Đáng chú ý, kết quả khảo sát chỉ được sử dụng làm cơ sở cấp phép khai thác sau khi được Sở Nông nghiệp và Môi trường xác nhận. Điều này giúp tăng trách nhiệm của cơ quan quản lý địa phương trong kiểm soát chất lượng thông tin địa chất trước khi đưa khoáng sản vào khai thác thương mại.

Bên cạnh đó, Thông tư sửa đổi năm 2026 cũng bổ sung cơ chế lựa chọn tổ chức, cá nhân được chấp thuận khảo sát tại các khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản. Các tiêu chí về năng lực tài chính, vốn chủ sở hữu và mối liên hệ với các dự án đầu tư công, dự án hạ tầng được quy định cụ thể hơn nhằm hạn chế tình trạng giữ chỗ tài nguyên hoặc đầu cơ quyền khai thác.

Siết chặt kiểm soát sản lượng khai thác

Điểm mới nổi bật nhất của văn bản là lần đầu tiên quy định tương đối đầy đủ cơ chế kiểm soát sản lượng khai thác khoáng sản thông qua thiết bị kỹ thuật và hệ thống dữ liệu điện tử.

Theo đó, tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản phải lắp đặt các thiết bị kiểm soát sản lượng khai thác theo quy định của Chính phủ. Đồng thời phải thiết lập hệ thống sổ sách, dữ liệu và chứng từ theo dõi toàn bộ quá trình khai thác từ khoáng sản nguyên khai, đất đá thải, sản lượng đưa vào chế biến đến sản lượng sau chế biến.

Văn bản quy định rõ các loại hồ sơ bắt buộc phải lưu giữ, bao gồm sổ theo dõi khối lượng khoáng sản khai thác hàng ngày, sổ theo dõi hàm lượng khoáng sản có ích, bản đồ hiện trạng khai thác, mặt cắt hiện trạng khu vực mỏ và các chứng từ kê khai thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường.

Đặc biệt, nếu số liệu giữa các nguồn tài liệu có chênh lệch quá 10%, doanh nghiệp phải giải trình và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của số liệu. Quy định này tạo cơ sở pháp lý quan trọng để kiểm soát thất thoát tài nguyên, chống khai thác vượt công suất hoặc khai thác ngoài phạm vi được cấp phép.

Không chỉ dừng ở việc lưu trữ hồ sơ, Thông tư còn yêu cầu doanh nghiệp xây dựng hệ thống quản lý, phân tích và tổng hợp dữ liệu hoạt động khoáng sản; kết nối dữ liệu từ các thiết bị cân, đo đạc với hệ thống thông tin của cơ quan quản lý nhà nước. Dữ liệu phải được truyền định kỳ về Sở Nông nghiệp và Môi trường và bảo đảm không bị chỉnh sửa, làm sai lệch trong quá trình truyền tải.

Đây được xem là nền tảng để hình thành hệ thống giám sát khai thác khoáng sản trực tuyến, giúp cơ quan quản lý theo dõi sản lượng khai thác gần như theo thời gian thực thay vì chỉ dựa vào báo cáo định kỳ của doanh nghiệp như trước đây.

Hướng tới quản trị khoáng sản minh bạch và hiện đại

Ngoài các quy định về kiểm soát sản lượng, văn bản còn quy định chi tiết việc lập bản đồ hiện trạng, mặt cắt hiện trạng khu vực khai thác khoáng sản. Các tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản phải cập nhật dữ liệu hàng năm, xác định trữ lượng còn lại, đánh giá sự biến động giữa trữ lượng thực tế với kết quả thăm dò được phê duyệt và giải trình nguyên nhân sai khác nếu có.

Bản đồ hiện trạng phải được lập trên hệ tọa độ quốc gia VN-2000, phản ánh đầy đủ thông tin về địa hình, địa chất, thân khoáng sản, ranh giới khai thác, các công trình phụ trợ và tình trạng khai thác tại thời điểm lập bản đồ. Đây là cơ sở quan trọng để phục vụ thanh tra, kiểm tra, thống kê và quản lý tài nguyên khoáng sản.

Văn bản cũng quy định rõ chế độ báo cáo định kỳ đối với doanh nghiệp khai thác khoáng sản, thời hạn nộp báo cáo, cơ quan tiếp nhận báo cáo và trách nhiệm tổng hợp báo cáo quản lý nhà nước về địa chất, khoáng sản của các địa phương và Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Có thể thấy, văn bản hợp nhất số 63/VBHN-BNNMT không đơn thuần là văn bản hướng dẫn kỹ thuật về khai thác khoáng sản. Điểm cốt lõi của văn bản là xây dựng cơ chế quản lý dựa trên dữ liệu, tăng tính minh bạch trong hoạt động khai thác và nâng cao trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp. Trong bối cảnh chuyển đổi số ngành tài nguyên và môi trường đang được đẩy mạnh, đây là một bước tiến quan trọng hướng tới mục tiêu quản trị khoáng sản hiện đại, hạn chế thất thoát tài nguyên và sử dụng hiệu quả nguồn lực khoáng sản quốc gia.

 

Hồng Minh