Ngày 25/6, tại TP. Đà Nẵng, Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Đà Nẵng tổ chức Diễn đàn “Khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên biển và hải đảo Việt Nam”. Hội thảo thu hút đông đảo chuyên gia, nhà quản lý, đại diện các địa phương ven biển cùng người dân tham dự.
Tham dự Diễn đàn có: TS. Phùng Đức Tiến, Đại biểu Quốc hội khóa XVI, Phó Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường; PGS, TS. Nguyễn Chu Hồi, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Thủy sản Việt Nam; TS. Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư; TS. Nguyễn Thanh Tùng, Phó Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam; TS. Đào Xuân Hưng, Tổng Biên tập Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường; ông Phan Văn Mỹ, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Đà Nẵng; bà Lê Thủy Trinh, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP. Đà Nẵng; ông Lê Vĩnh Thuận, Phó Giám đốc Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Cù Lao Chàm, cùng đại diện các sở, ban, ngành thành phố Đà Nẵng; đại diện các Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh, thành phố ven biển và người dân Đà Nẵng…
Diễn đàn là hoạt động trọng tâm hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới 5/6, Ngày Đại dương thế giới 8/6, Tháng hành động vì môi trường và Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam năm 2026; đồng thời là không gian đối thoại chính sách quan trọng, kết nối cơ quan quản lý nhà nước, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp, chuyên gia và nhà khoa học nhằm trao đổi, đề xuất các giải pháp thực chất cho công tác khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên biển và hải đảo trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Phát biểu khai mạc diễn đàn, TS. Đào Xuân Hưng, Tổng Biên tập Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường cho biết, sau gần 8 năm thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam, kinh tế biển nước ta đã có nhiều bước chuyển biến tích cực, trở thành động lực quan trọng cho tăng trưởng. Theo ông, nguồn tài nguyên biển đảo vô cùng quý giá, là nền tảng quan trọng cho sự phát triển lâu dài của đất nước. Trong bối cảnh mới, cần chuyển mạnh từ tư duy khai thác đơn thuần sang khai thác thông minh, hợp lý, gắn với bảo tồn hệ đa dạng sinh học biển và phục hồi tài nguyên, bảo vệ môi trường biển hướng tới phát triển kinh tế biển xanh, bền vững.Từ góc độ địa phương, ông Phan Văn Mỹ, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Đà Nẵng cho biết, với 228 km bờ biển cùng hệ thống cảng biển, sân bay quốc tế quy mô lớn, Đà Nẵng có lợi thế đặc biệt để phát triển kinh tế biển, logistics, du lịch biển và các ngành kinh tế xanh. Những năm qua, Thành phố đã triển khai nhiều chương trình trọng điểm về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hướng tới phát triển bền vững.Nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến nhấn mạnh, phát triển kinh tế biển phải song hành với bảo tồn đa dạng sinh học. Bảo tồn, nuôi trồng và khai thác thủy sản đều là những trụ cột quan trọng, trong đó khai thác phải gắn chặt với bảo tồn để phát huy hiệu quả các lợi thế của biển trong phát triển kinh tế, giao thông và bảo đảm an ninh.Ở góc nhìn chuyên gia, PGS, TS. Nguyễn Chu Hồi, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Thủy sản Việt Nam, cho rằng đại dương đang chịu áp lực ngày càng lớn từ biến đổi khí hậu, ô nhiễm và hoạt động khai thác quá mức. Những biểu hiện rõ nét gồm hiện tượng ấm lên, axit hóa đại dương, nước biển dâng, suy giảm nguồn lợi thủy sản và ô nhiễm rác thải nhựa. Theo ông, con người đang khai thác tài nguyên biển mạnh mẽ nhưng chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm bảo vệ hệ sinh thái.TS. Nguyễn Thanh Tùng, Phó Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam, chỉ ra 5 điểm nghẽn lớn trong hệ thống pháp luật hiện hành gồm: thiếu cơ chế quản lý không gian biển; chồng chéo giữa các luật liên quan; thiếu cơ chế thúc đẩy kinh tế biển; chưa hoàn thiện quyền sử dụng khu vực biển; và còn khoảng trống trong quản lý môi trường biển, đặc biệt là rác thải nhựa và ô nhiễm xuyên biên giới.Từ thực tiễn địa phương, ông Đặng Duy Hải, Phó Chi cục trưởng Chi cục Biển đảo và Thủy sản thành phố Đà Nẵng cho biết, Thành phố là một trong những địa phương sớm hoàn thành việc thiết lập và quản lý hành lang bảo vệ bờ biển, góp phần bảo vệ hệ sinh thái, giảm sạt lở và bảo đảm quyền tiếp cận biển của người dân.Tại tham luận “Phát triển du lịch sinh thái biển gắn với bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và sinh kế cộng đồng”, ông Lê Vĩnh Thuận, Phó Giám đốc Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Cù Lao Chàm khẳng định, Cù Lao Chàm là minh chứng rõ nét cho mô hình phát triển du lịch hài hòa giữa bảo tồn và phát triển kinh tế, trong đó hai yếu tố này không đối lập mà có thể bổ trợ cho nhau. Theo ông, để đạt được hiệu quả, Ban Quản lý đã tập trung triển khai 4 trụ cột chính gồm: quản lý tổng hợp dựa vào cộng đồng, xây dựng cơ chế tài chính bền vững, phát triển du lịch sinh thái có kiểm soát và tăng cường hợp tác khoa học, công nghệ cùng hợp tác quốc tế.Ông Lê Trung Kiên, Chánh Văn phòng Cục Thủy sản và Kiểm ngư nêu ra quan điểm và mục tiêu Phát triển ngành thủy sản vì sự thịnh vượng của ngư dân, giải quyết đồng bộ 3 vấn đề: Ngư dân – ngư nghiệp – ngư trường. Phát triển cảng cá thành các trung tâm kết nối cộng đồng, đa chức năng, đa nhiệm vụ và đa giá trị, trung tâm nguyên liệu, nơi ngư dân về sinh hoạt, giao lưu, học hỏi, lưu giữ và truyền bá giá trị văn hóa, ẩm thực. Đồng thời cần cấu trúc lại ngành thủy sản theo hướng chuyển từ khai thác tài nguyên thiếu bền vững sang phát triển kinh tế thủy sản bền vững; cân bằng giữa khai thác, nuôi trồng, bảo tồn dựa trên xây dựng hệ sinh thái ngành hàng gồm có quản lý nhà nước, cộng đồng doanh nghiệp và cộng đồng ngư dân…Chương trình diễn đàn gồm hai phiên làm việc chính, tập trung vào các báo cáo tham luận chuyên sâu về hành lang pháp lý, thực trạng quản lý tài nguyên môi trường biển tại địa phương, công tác nuôi trồng, khai thác thủy sản bền vững gắn với quy định quốc tế và phát triển du lịch sinh thái gắn kết bảo tồn đa dạng sinh học với sinh kế cộng đồng; tiếp nối bằng phiên tọa đàm thảo luận trực tiếp với các cơ quan quản lý, chuyên gia và nhà khoa học. Tại đây, các đại biểu đã gửi nhiều câu hỏi liên quan đến vấn đề biển, hải đảo,...
Không chỉ dừng ở một sản phẩm nông nghiệp đặc hữu, trà Shan Tuyết đang được nhìn nhận như một tài nguyên văn hóa, sinh thái và kinh tế có khả năng tạo ra chuỗi giá trị mới nếu biết gắn sản xuất với trải nghiệm. Tại hội thảo “Phát huy giá trị vùng Chè Shan Tuyết cổ trong phát triển Du lịch nông nghiệp tuần hoàn ở Hồ Thầu” diễn ra ngày 17/4, PGS, TS. Phạm Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch, đề xuất một hướng tiếp cận đáng chú ý: Biến quy trình chế biến trà thành sản phẩm du lịch, đưa trà Shan Tuyết bước vào không gian kinh tế trải nghiệm và du lịch nông nghiệp tuần hoàn.
Chiều ngày 16/4/2026, tại thôn Chiến Thắng, xã Hồ Thầu (Tuyên Quang) đã diễn ra Lễ phát động trồng dặm cây chè Shan tuyết cổ thụ. Với chủ đề “Phát huy giá trị vùng chè Shan tuyết cổ thụ gắn với phát triển du lịch nông nghiệp”, sự kiện không chỉ nhằm phục hồi những diện tích chè già cỗi mà còn mở ra hướng đi mới bền vững cho địa phương.
Tây Nguyên từ lâu được biết đến là vùng kinh tế trọng điểm phát triển về các loại cây trồng như cà phê, hồ tiêu, cao su… Tuy nhiên, nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển nông nghiệp của vùng vẫn còn nhiều hạn chế, điều đó ảnh hưởng rất lớn đến sự tăng trưởng của vùng. Để hiểu rõ hơn về công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với PGS, TS. Nguyễn Văn Minh, Trưởng khoa Nông nghiệp – Trường Đại học Tây Nguyên.
Được ví như “kim chỉ nam” cho sự phát triển khoa học công nghệ, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị không đơn thuần bổ sung các chính sách ưu đãi riêng lẻ, mà mang đến một sự chuyển dịch mạnh mẽ về tư duy lập pháp và quản lý nhà nước theo hướng kiến tạo. Dưới góc nhìn pháp lý, đây chính là chìa khóa tháo gỡ những "nút thắt cổ chai" lâu năm, mở đường cho cộng đồng doanh nghiệp nông nghiệp và các mô hình sinh thái bứt phá trong kỷ nguyên số.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong việc cảnh báo sớm thiên tai đang dần được triển khai một cách có hiệu quả, giúp phân tích lượng lớn dữ liệu khí tượng nhanh chóng và chính xác hơn so với phương pháp truyền thống. Các mô hình học máy có thể dự đoán xu hướng thời tiết dựa trên dữ liệu lịch sử và thời gian thực. Tuy nhiên, sử dụng AI một cách an toàn và hiệu quả cũng đặt ra nhiều thách thức.